Showing posts with label Văn hóa Phật giáo. Show all posts
Showing posts with label Văn hóa Phật giáo. Show all posts
Monday, January 9, 2012

CÂY MUỐN LẶNG MÀ GIÓ CHẲNG DỪNG!

0 nhận xét

Tôi lại viết và cứ muốn viết mãi đề tài này. Và đây là lần thứ tư mà tôi đã viết. Tôi nhớ rất kỹ lần đầu tiên tôi viết là vào năm 1953. Dạo đó tôi còn là một học tăng của Phật học đường Nam Việt, cấp đại học. Nhơn sau buổi giảng của tôi vào chiều Chủ Nhật tại Hội Phật Học xong, vì mùa Vu lan, đạo hữu Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Hội Trưởng Hội Phật Học Nam Việt cũng là chủ bút Nguyệt san Từ Quang, yêu cầu tôi viết một bài cho tờ báo. Tôi không có khiếu về văn chương, nên viết lách là điều bắt buộc đối với tôi.  Tuy nhiên vì một yêu cầu không thể không đáp ứng, do đó mà câu chuyện bắt đầu … bài chung quanh về vấn đề chữ Hiếu và Mẹ.


Mẹ tôi qua đời trong mùa Vu lan năm tôi đúng 19 tuổi và thân phụ tôi viên tịch cũng trong mùa Vu lan năm tôi đúng 45 tuổi. Từ bao nhiêu mùa Vu lan qua rồi, lòng tôi ray rức xót xa, hồi tưởng lại những lỗi lầm của mình đã tạo trong lúc chưa hiểu đạo và cũng trong lúc kiến thức còn nông sơ, và tôi kể lại đây để những bạn trẻ đọc mà thấm thía!


Thuở bé, tôi vốn là đứa trẻ ốm yếu, thường bệnh hoạn, nên mẹ tôi là người chịu khổ nhất đối với tôi. Tôi nhớ mỗi lần tôi đau, mẹ tôi phải mất ít nhất trên một tiếng đồng hồ về việc cho tôi uống thuốc. Vốn sợ thuốc mà lại hay đau! Một lần nọ mẹ tôi bắt buộc phải cạy răng để đỗ thuốc và do đó tôi cắn vào ngón tay trỏ của bà lủng sâu và máu ra nhiều, nhưng bà vẫn không thấy đau mà nhất định bắt tôi phải uống cho được. Sau khi uống xong liều thuốc, nhìn thấy những giọt máu đào từ ngón tay thân yêu của mẹ chảy ra, khiến tôi mềm lòng và từ đó tôi không bao giờ để mẹ bảo lần thứ hai và tự nhủ rằng: Từ nay mẹ bảo uống thuốc thì uống ngay, dầu là thứ thuốc độc uống xong rồi chết liền cũng được; chứ trước thì bệnh, mẹ bảo uống thuốc cho hết bệnh, lại làm như là mẹ bắt buộc mình uống thuốc độc không bằng!


Quê tôi vùng Cát Lái, cũng đồng ruộng mênh mông, cũng vườn dừa, vườn cau sầm uất. Gia đình tôi thuộc hạng trung nông, cha tôi cũng có vị thế khá trong hương thôn. Mẹ tôi lại là vợ kế của cha tôi. Mẹ trước mất đi, để lại ba người con đều trai cả. Khi mẹ tôi về thì người con cuối của mẹ trước mới lên ba tuổi. Lại có hai người dì, em mẹ lớn không được tốt bụng và đó là nguyên nhân gây nhiều khổ sở cho mẹ tôi. Mẹ tôi sanh được bốn đứa, ba trai một gái, đứa em gái là đứa con được cha tôi thương nhiều nhất, nhưng chỉ 3 năm sau thì vắn số. Vì là con hai dòng, nên mấy người dì em mẹ trước sợ mẹ tôi đoạt hết gia tài về cho con mình, nên cố xúi mấy người anh tôi hành hạ, ức hiếp mẹ tôi nhiều điều, đủ cách; nhưng mẹ tôi là một hiền mẫu không vì lẽ không phải chính con mình sanh ra mà bạc đãi, hành hạ con chồng, cũng một mực thương yêu chìu chuộng đứa trước thế nào thì đứa sau cũng vậy, vẫn ăn học đồng đều.


Có một lần, buổi sáng đi học, mẹ tôi phát cho mấy người anh mỗi đứa hai xu, riêng tôi chỉ một xu thôi, em tôi chưa đi học, và như thế tôi là nhỏ nhất. Mẹ tôi bảo: hôm nay mẹ kẹt không còn thêm một xu nữa để cho con đủ số như các anh con vì con còn nhỏ nên phải chịu thiệt một chút. Tôi nhất định không nhận và cũng nhất định không đi học, nếu mẹ tôi không cho đủ hai xu. Mẹ tôi ngọt ngào dụ dỗ không được, đánh đập cũng không lấy và hôm ấy tôi bỏ học, và cũng suốt ngày hôm ấy mẹ tôi buồn khóc không ăn cơm. Khi lớn lên, biết suy nghĩ, mới thấy mình thật ngu ngốc: học cho mình chớ nào phải học mướn cho mẹ, mẹ thiếu tiền mướn không đi, sau nầy nên người thì mình nhờ, chớ mẹ mình có lột vỏ theo mình để hưởng gì đâu! Lại khi không đủ hai xu để cho con thì lòng mẹ cũng héo hon, đau xót, nhứt là những lằn roi trên mình con là những lằn dao rạch xé tâm can của mẹ. Có người mẹ nào muốn cho con mình thiếu thốn khổ sở bao giờ! Lòng mẹ bao la như biển Thái bình, biển Thái bình có ngày còn cạn chớ lòng thương của mẹ thăm thẳm nghìn trùng!


Năm tôi 19 tuổi và đang theo Thầy học đạo tại chùa Ông Ngộ, tức chùa Tôn Thạnh tại làng Mỹ Lộc quận Cần Giuộc, nghe tin mẹ tôi đau, tôi xin Thầy về nhà nuôi mẹ, vì nhà đơn chiếc, chỉ có một em trai nhỏ dại ở nhà thôi. Nhắc lại việc tôi xuất gia cũng rất ly kỳ. Gia đình tôi mất hai người anh trước sau hai ngày, một anh của dòng trước và một anh của dòng sau.


Bây giờ tôi trở thành anh trưởng của dòng sau, và coi như là anh cả trong nhà, vì các anh trước tôi đã lập gia đình và ra riêng cả. Hồi tôi mới sanh đến năm lên ba, tôi vẫn ăn được duy nhứt toàn đồ lạt không ăn được cá thịt. Thường ngày mẹ tôi phải hấp hồng khô cho mềm để cho tôi ăn cơm. Cha tôi sợ tôi ốm yếu, lớn lên không làm gì được nổi, nên bắt mẹ tôi phải bằng mọi cách cho tôi ăn mặn. Mẹ tôi không dám cải, nên từ từ tập cho tôi ăn tép rang đường thiệt ngọt, dần dần đến những thứ ít tanh, hôi. Ngày lớn lên đi học, trong xách cơm đi học hằng ngày của tôi luôn luôn là dừa khô kho đường, muối, hoặc đường thẻ, đường tán, không thì cũng tép rang đường. Năm tôi 12 tuổi, một biến trạng xảy đến, làm cha mẹ tôi phải một thời gian mất ngủ. Số là, dạo nầy hễ cứ đêm đến thì những bóng ma quái cứ hiện đến phá phách, luôn đêm nầy sang đêm khác, làm cho gia đình chúng tôi phải bị đắm chìm trong không khí lo sợ, hãi hùng. Chạy đã đủ thầy, cũng vô hiệu, thậm chí luôn cả bao nhiêu đêm, cha mẹ tôi nằm hai bên tôi, cha tôi thủ sẵn một con dao, hễ nghe tôi giựt mình la hoảng, thì người quơ dao lên khoảng không, để chực đuổi đi, nhưng đêm nào cũng như đêm nấy, bọn ma quái cứ hiện đến phá quấy luôn. Mãi đến ba tháng sau, cha tôi mới chợt nghĩ đến việc cầu Phật, vì hết cách chữa trị. Ngày xưa, cha tôi tu theo Tịnh độ tông, nhà thờ Phật để trên trang cao, mỗi lần lên đốt hương, phải bắt thang gỗ, và nơi thờ kính tôn nghiêm đó, cha tôi có treo một xâu chuỗi ngắn 18 hột. Người cầu nguyện với Phật thỉnh xâu chuỗi xuống, đeo vào cổ tôi, và lạ thay, kể từ hôm đó cảnh phá khuấy không còn nữa.


Đến năm đúng 14 tuổi, thì tôi được xuất gia theo thầy học đạo.Tôi mà đi tu được thì ngoài sự hy sinh tình cảm sâu đậm của mẹ tôi, còn thêm sự dẫn dắt của bà nội tôi nữa! Nội tôi đã già nhưng rất sùng đạo, hằng tháng, ngày 14 và 30, tháng thiếu thì 29, nội tôi luôn luôn có vài bình bông trang hoặc thọ, và vài nãi chuối, hoặc ít trái cây lên chùa sám hối và ở lại chùa đến khuya còn theo thầy công phu, chúc tán. Mà như vậy thì không đêm nào Nội tôi không dẫn tôi theo và nền móng xuất gia của tôi bắt nguồn từ đó.


Nhà tôi trước chỉ ăn chay kỳ, mỗi tháng 10 ngày. Nội tôi thì trước ở với người chú út của tôi, mãi khi chú tôi qua đời sớm, thì bấy giờ bà mới chịu về ở chung với gia đình tôi, cha tôi là con trưởng. Trong thân tộc tôi ít có người nào sống được quá 50, ngoại trừ Nội tôi thọ 81 tuổi, cha tôi (tức Hòa Thượng Thích Đạt Kiến) thọ 85 và người cô ruột kế út cũng thọ đúng 81 như Nội tôi. Riêng Nội tôi thì ăn chay và tu từ khi ông nội mất lúc 45 tuổi, nên khi về ở chung với chúng tôi, thì bà được dọn riêng và ăn riêng hoặc rau luột, nước tương hay cà kho, đậu kho vậy thôi, vì có một mình bà cụ nên không bầy biện.


Một hôm nọ, cha tôi đang cùng gia đình ăn uống vui vẻ với mâm cơm mặn có canh, có cá thịt, bỗng ông nhìn sang mâm ăn sơ sài của Nội tôi với chiếc thân già lặng lẽ, ông bỗng buông đũa, nước mắt dầm dìa, nói với mẹ tôi: Từ nay gia đình ta ăn chay, không thể nuốt trôi khi mẹ già ăn uống khổ cực và cô quạnh như vậy. Thế là từ đó mẹ tôi đổi nghề nấu bếp …


Ngày mẹ tôi thọ bệnh, vì gia đình không có ai, tôi phải giả từ thầy tổ, về nhà đóng vai trò con gái để nuôi bệnh cho người. Mẹ tôi vì quá vất vả trong cuộc sống, để không phải mang tiếng mẹ ghẻ, con chồng, lại tảo tần làm lụng không nghỉ để dành dụm cho con, nên mới gần 50 bà đã kiệt sức và mẹ tôi mang chứng bệnh nan y. Tất cả công việc nấu nướng, chợ búa thậm chí tắm rửa, giặt giũ cho mẹ tôi, tôi cũng làm nốt và làm rất thành thạo.


Bệnh mẹ tôi càng ngày càng thêm nhiều, sức khoẻ của người càng ngày càng sút giảm mà công việc của tôi càng ngày lại càng thêm. Có một hôm, sau một giấc ngủ say vùi vì mệt nhọc, tôi bỗng giựt mình đến toát mồ hôi, một cảnh tượng hãi hùng, mà cho tới mãi bây giờ tôi mường tượng như trước mắt: Mẹ tôi nằm chèo queo ở một góc giường, chiếc giường tre dùng cho người bệnh đã cháy một vùng tròn và cháy sém lên trên hai lớp mền nỉ! Tôi kêu thất thanh và cha tôi cũng chạy đến để dập tắt vừa hơ hám cứu chữa cho mẹ tôi. Khi bà tỉnh lại, tôi hỏi tại sao mẹ không kêu, khi bà bị phát lạnh nửa đêm. Mẹ tôi bảo: thấy con đang ngủ say và vừa mới ngủ, sợ mất giấc ngủ của con rồi con sẽ không còn sức khoẻ, nên đi đốt lửa để hơ, nào ngờ ngọn lửa bốc cao, làm cháy cả giường, mền, trong lúc mẹ thì ngất xỉu. Đến giờ phút nguy nan có thể nguy hiểm đến tánh mạng như vậy, mà vẫn chỉ nghĩ đến sức khoẻ của con mình, mẹ ơi, giờ phút mẹ mất rồi, con biết tìm đâu ra bóng hình thân yêu và tấm lòng quảng đại ấy! Bây giờ lớn lên, lòng thương nhớ mẹ hiền tha thiết, muốn được còn mẹ để sớm hôm hầu hạ, để được gần gũi tắm ánh sáng nhiệm mầu qua tình thương của mẹ, thì không còn được nữa, mẹ hiền đã khuất bóng! Thật là: cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, con muốn nuôi mẹ thì bóng mẫu từ đã sớm khuất.



Continue reading →

RAMADAN IFTAR: BUỔI TỐI THÂN THIỆN VÀ SAN SẺ

0 nhận xét


Hồi  giáo là một tôn giáo trẻ nhưng có sức sống mãnh liệt và phát triễn rất nhanh. Hồi giáo có sau Thiên Chúa giáo trên 800 năm, như vậy là nó có sau đạo Phật  gần  1400. Vậy mà giờ đây lại là một tôn giáo có số tín đồ đứng hàng thứ nhì trên thế giới sau nhóm Cơ Đốc giáo.


Như vậy là chúng ta cũng cần phải học hỏi thêm ở những người bạn láng giềng này. Được sự khuyến khích và ủng hộ của Hiệp Hội Liên Hiệp Văn Hóa Úc châu( Australia Intercultural Society), Cộng đồng Hồi giáo Victoria cùng Cộng đồng Phật giáo Victoria và Cộng đồng Phật giáo Melbourne, Thượng Tọa Thích Phước Tấn đã mạnh dạn đứng ra tổ chức buổi ăn tối với đầy đủ ý nghĩa và theo tinh thần Ramadan của Hồi giáo nhưng mang tính từ bi của đạo Phật cao cả. Đã là người con Phật không ai lại không nhớ đến lời Phật dạy về gới sát sanh trong ngủ giới: “ Này Anan, ta không sát sanh vì sát sanh sẽ làm đoạn mất giống từ bi. ” Thế nên trong buổi cơm tối nầy chúng tôi được khoảng đải với những món ăn chay thịnh soạn qua sự hợp tác của ban trù đường và ban công quả chùa Quang Minh cùng các thành viên trong cộng đồng Hồi giáo có tại Melbourne và những vùng phụ cận.


Cũng xin nói thêm là Ramadan mang ý nghĩa rất đẹp vì  nó là tháng mà mọi người cùng nhau chay tịnh từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt rời lặn. Sau đó cả  nhà cùng đọc kinh cầu nguyện rồi ngồi chung trong bàn ăn để bàn bạc kiểm điểm; để dâng tặng nhau những món quà tốt đẹp nhứt về tinh thần lẫn vật chất,  cũng như đánh giá những thành quả tốt đẹp của các thành viên trong gia đình; để cùng nhau củng cố nó.  Rồi cùng nhau thưởng thức những món ăn truyền thống của dân tộc do các bà mẹ, các người vợ là những phụ nữ đảm đang của dân tộc Hồi nấu nướng. Đây là một tháng mang tính hài hò#a bất bạo động.


Có sự trùng hợp ngẩu nhiên trong Phật giáo chúng ta, đây cũng là tháng trong mùa Vu Lan để cả gia đình cùng đến chùa cầu nguyện cho cha mẹ hiện đời cũng như cha mẹ bảy đời. Lễ cài hoa hồng mang ý nghĩa tốt đẹp với lòng biết ơn và sự kính trọng ông bà cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình. Đây cũng là tháng dâng quà trai tăng cho quý thầy và dâng quà cho cha mẹ trong gia đình qua việc tổ chức Lễ Thượng Thọ của các cụ trên 85 vừa qua tại chùa Quang Minh. Nó cũng trùng hợp với vào đúng ngày Father’s day của dân tộc Úc. Vậy thì buổi tối hôm nay có tính rất là đa văn hóa và mang đầy ý nghĩa  cho mỗi dân tộc nói riêng và toàn dân Úc nói chung.


Không khí mát dịu của ngày đầu Xuân mang lại một chút sản khoái, một chút nhẹ nhàng đến cho quý vị làm công quả. Không phải đợi đến giờ phút này ban nhà trù mới bắt đầu làm việc, mà phải nói việc làm đã được chuẩn bị từ bao nhiêu tuần trước rồi. Tony, Mỹ Phương bận rộn với phần chương trình, âm thanh, ánh sáng trong cả suốt ngày hôm nay. Đây cũng là hai nhân vật chính trong buổi lễ. Tony còn là Điều Hợp Viên của chương trình “The Taste of the Faith”, là một chuổi kết hợp của ba  việc. Ramadan Iftar là việc đầu tiên, ngoài ra ta còn hai việc nữa là Interfaith Forum for Student sẽ được tổ chức vào ngày Thứ Sáu hôm sau cũng tại chùa Quang Minh. Cái cuối cù#ng là Interfaith Community Gathering là


buổi ăn tối dành cho Đại Hội Nghị Tường tôn giáo quốc tế vào tháng 12 tới đây. Anh Tâm và anh Kiệt là những lực lượng lao động đắc lực có trong chùa đã cùng mọi người sắp xếp bàn ghế. Chị Tâm Sở, anh Hai , chị Hai,  Cô Hoa, Lệ Tâm, Mỹ Lộc, Diệu Thọ, Chi Diệu Đức, cô Dung bận bịu trong công việc chuẩn bị cho buổi ăn tối ngày hôm nay. Mọi người làm việc trong tinh thần an vui thanh tịnh. Rồi cộng đồng Hồi cũng mang thực phẩm tươi mát của họ đến bày trên dãy bàn giữa Hội trường. Anh chàng trẻ tuổi người Thổ Nhĩ Kỳ mang một cát mẹt lớn đựng đầy bánh mì rất ngon của dân Thổ và những món chấm hấp dẫn. Anh lăn xăn chạy tới chay lui cung cấp thức ăn và lo luôn phần tiếp tân thực khách trong cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ của anh.


Lơ thơ một vài khách từ xa đến, có những vị phải vượt đoạn đường dài cả trăm cây số, nên đã cố gắng đến sớm hơn giờ đã đị#nh. Được sự cho phép của thầy Trụ trì, tôi đã hướng dẫn khách đến thăm ngôi Đại Hùng Bửu Điện đang xây cất. Mọi người đều khen ngợi công trình và vẻ đẹp mỹ miều hiếm có của nó trong một vị thế sông nước hài hòa phù hơ#p với lòng người.


Trong số khách đến sớm vừa có đại diện của các trung tâm Hồi giáo, vừa có cả khách của Cộng đồng Phật giáo. Một duyên lành đến với  tôi là, chiều hôm đó tôi được tiếp xúc với thầy Andrew Williams. Thầy cho biết là thầy rất quý người Việt của chúng ta. Hòa Thượng Thích Chơn Thanh trụ trì chùa Liên Hoa tại California chính vị Bổn Sư của thầy. Hiện nay thầy là giảng viên dạy Pháp bằng tiếng Anh cho chư Tăng Ni và Phật tử tại chùa Vân Dương  (Yun Yang) cách Melbourne không xa lắm cùng là một số học viện thuộc phái Mật Tông của Tây Tạng ở Úc, Mỹ, Gia Nã Đại .v.v.v. Thầy tỏ lòng tôn quý đức độ thầy Phước Tấn. Thầy mong có một ngày không xa thầy sẽ tìm và học hỏi thêm về những việc làm dấn thân đầy ý nghĩa vì Đạo Pháp của thầy Trụ trì chúng tôi.


Nắng tắt dần sau hàng cây bạch đàn bên lưng đồi chùa. Đây là giờ hoạt động chánh của ban tiếp tân. Có chừng khoảng trên 300 thực khách, lớn hơn số dự trù là 200 người. Theo sự sắp xếp của ban tổ chức khách mời sẽ được ngồi pha lẫn nhau,  như trong một bàn thì phải có một phần khách Hồi giáo, một phần khách Phật giáo cùng một số ít thân hào nhân sĩ chánh khách, chánh khứa.  Tôi cho là ý kiến tuyệt diệu và nó cũng là mục đích chính của buổi tối ngày hôm nay, một buổi tối chia sẻ và hòa hợp cho hai cộng đồng Phật và Hồi giáo.


Để mở đầu cho chương trình là lời chào mừng quan khách. Người MC của buổi lễ ngày hôm nay là ông Azan. Ông tuyên bố buổi lễ bắt đầu với bản kinh của người Hồi giáo Sunset–Maghred prayer. Thường họ phải đọc kinh cầu nguyện trước rồi mới ăn. Hàng tín đồ chia làm hai phái nam và nữ riêng, họ đi qua hai bên cách gà của sân khấu lạy lễ một cách thành thục. Nhìn đó để ta học hỏi được tính thuần thục của tín đồ đạo Hồi mà thán phục mà bắt chước.  Tôi không biết vị chủ lễ là ai, nhưng một điều đáng ca ngợi là: họ đi trong vòng trật tự và yên lặng. Sau phần lễ lạy là phần tụng bản kinh cầu nguyện. Bản kinh này tôi được nghe mỗi ngày khi còn ở đảo Galang trong trại tị nạn. Khi ấy thì thấy bản kinh dài lòng thòng, mọi người  cầu cho mau hết bản kinh là nhảy vào nhà ăn tìm một cái gì bỏ vào bụng. Vậy mà giờ đây nghe lại thì thấy nó mang nhạc điệu trầm bổng có một chút gì thiết tha, cũng có một chút gì thư thái và mong được nghe thêm để tận hưởng được cái hay của nó. Thế mới biết  cảm  thọ thương ghét là những cái không có thật.


Có thực mới vực được đạo. Theo tôi đây là phần chính của buổi lễ, ta hãy cùng nhau ăn vì xem ra ai cũng đói bụng cả rồi. Chúng tôi được kêu thứ tự theo số bàn để tự mình lo lấy phần ăn của chính mình. Nhìn thức ăn bày la liệt trên dãy bàn chính giữa, ai thấy cũng phát thèm. Màu sắc cũng là phần tô điểm cho nhản quan nhưng cũng góp phần vào việc làm cho món ăn đó trở thành ngon miệng hơn. Màu đỏ của dưa cải chua, màu vàng của cà ry, màu trắng tinh khiết của những chiếc bánh bèo, đứng cạnh bên màu xanh những lá nho cuộn cơm, màu vàng của mấy cuốn chả giò, điểm bên đó là màu đỏ của nồi đậu hầm, rồi những cuốn bò bía thon dài đầy màu sắc của những rau quả ẩn bên trong làm ta chưa ăn mà đã cảm thấy ngon miệng. Bên Hồi giáo có món lá nho cuộn gạo sống rồi hầm cả ngày trời.  Đây là món ăn khoái khẩu mà thực khách tây phương rất thích. Ngoài ra món cà ry, cái nồng nàn của quế chi của gừng pha lẫn cái thơm tho của đại hồi, tiểu hồi của đinh hương quyện vào mũi ta khiến ta ngây ngất như được nhìn ngắm vẻ đẹp của những người phụ nữ Hồi. Thầy trụ trì tạt  ngang bàn chúng tôi rồi khuyến khích: “Quý vị thử ăn miếng bánh xèo đi, để thưởng thức hương vị quê hương Việt Nam.”  Một lực lượng hùng hậu nhà bếp Quang Minh được dàn hàng ngang ở dãy cuối cùng gần nhà bếp. Sáu cái bếp ga nhỏ đặt bên trên là sáu cái chảo gang. Xèo một cái một chiếc bánh đã làm xong. Chiếc bánh hình bán nguyệt màu vàng, mang giải ren mỏng mảnh dòn dòn bên ngoài. Bên trong là giá, là đậu hủ, là nấm rơm tươi. Bạn để vào miệng chất béo của dừa của bột tan chầm chậm làm cho người ăn cảm thấy hài lòng và muốn ăn thêm. Làm bánh xèo mà không có nước chấm ngon là hỏng. Vậy là chúng tôi được cả hai phần vừa bột vừa nước chấm.  Ngoài ra còn phần tráng miệng do chùa Quang Minh khoảng đải với món bánh ích lá dứa màu xanh ngọc là phần cống hiến của chị Diệu Đức nằm duyên dáng bên dĩa khóm vàng tươi với chùm nho mọng đỏ, bên cạnh đó là chiếc bánh dẻo trắng nỏn nà tạo thành bức tranh lập thể đầy màu sắc.


Làm như cái mặt của tôi có chữ Quang Minh hay sao mà ai cũng lại cười thân thiện và bày tỏ lời khen ngợi. Tiến sĩ Zane ở trường Đại học Monash chạy đến vổ vai tôi rồi  nói: “ Tôi chưa thấy buổi ăn nào ngon lành và thịnh soạn như buổi ăn này.” Hai  cô công an của địa phương rất tha thiết với món bò# bía và hứa hẹn là sẽ đặt phần ăn từ nhà bếp chùa Quang Minh mà trong đó phải có món bò bía.  Có một ông người Croatian vừa tròn vừa béo cứ nhứt định đòi cho bằng được công thức chế biến chiếc bánh xèo để về cho vào thực đơn nhà hàng ông ta. Nhiều thực khách đã rất thích chiếc bánh xèo. Cô Linda, người Đài Loan, là một thành viên đắc lực trong cộng đồng Phật giáo Melbourne, đã đề nghị đưa chiếc bánh xèo vào buổi gây quỷ tại St Kilda trong dịp tới đây. Rồi các em trong gia đình Phật tử cũng khen món bánh xèo hết mình. Phải thành thật mà nói lúc nghe chương trình du lịch và ăn uống phát thanh từ đài ABC, có một anh phóng viên thuộc loại quốc tế có hạng mà tôi quên tên đã  phát biểu là: “Tôi đi khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng phải công nhận là thức ăn Việt Nam đáng được sắp vào hàng đầu và càng đi về miền Nam thì thức ăn càng ngon và càng khoái khẩu.” Tôi chưa tin lắm nhưng nay thì lời nói này đã được kiểm nhận qua sự đánh giá của món bánh xèo do chị Diệu Đức chủ trì.


Tôi thấy việc sắp xếp chương trình của buổi lễ rất là thực tế. Vì sau khi ăn xong thì mọi người no bụng nên có thể nghỉ ngơi để nghe những lời phát biểu của những nhân vật quan trọng.


Người được giới thiệu mở đầu cho buổi lễ là thầy Phước Tấn. Lúc nào thầy cũng là người bận rộn nhưng lúc nào thầy cũng biểu lộ được phong thái trầm tỉnh hiếm có. Với vẻ mặt tươi vui và phong cách an nhiên điềm đạm.Thầy nhắc nhở lại cuộc gặp gở gần đây giữa thầy và người bạn tại Melbourne, mà  thuở xa xưa hai người cùng học chung trường Canley Vale trên Sydney. Từ  đó thầy dẫn cho ta thấy sự kết tập của những người từ nhiều sắc tộc khác nhau mang đến sự hòa điệu và hạnh phúc tuy rất  hiếm thấy  nhưng nó cũng đã được thể hiện trong tinh thần của tổ chức AIS hiệp hội văn hóa này. Theo đạo Phật thì đây là một việc làm  mang nghiệp toàn thiện. Thầy mong rằng mọi người cùng nhau an vui và san sẻ cho nhau niềm hạnh phúc có được ngày hôm nay.


Kế đó là lời phát biểu của ông Ahmet Orhan Polat, Điều hợp viên của AIS. Ông cho biết việc chùa Quang Minh đứng ra tổ chức buổi ăn tối này mang ý nghĩa trọng đại và AIS giử vai trò quan trọng  trong việc làm giải nối giữa hai khối Phật và Hồi giáo. Buổi ăn tối Ramadan Iftar nhằm khuyến khích mọi người thắt chặc thêm tình thân hữu, sự san sẻ và lòng tin lẫn nhau . Ông cũng nhắc  là  cũng trong dịp này ta nên đem lòng thương tưởng đến những kẻ nghèo đói khốn cùng mà giúp đở họ.


Cuối cùng, ông ngỏ lời cám ơn hết tất cả những người đã góp công trong việc thành công viên mãn của buổi tối ngày hôm nay.


Tiếp đến là phần đọc đoạn kinh Quran do Hafit Adem. Anh chàng nầy có giọng đọc vô cùng diễn cảm, làm cho người nghe bồi hồi xúc đô##ng .


Một giáo sư tiến sĩ người Úc đọc bản kinh Pháp cú bằng Anh ngữ với hình ảnh minh họa. Bản kinh này được cô Kim dịch lại bằng tiếng Việt.  Trong phần trích dẫn thể hiện qua những câu: “ Lòng từ bi càng nhiều,  trí huệ càng cao thì ưu phiền càng ít;  Chiến thắng vạn quân , không bằng tự thắng mình; Chỉ có tình thương mới diệt được hận thù.v.v.v.” Tuy đây chỉ là  một phần nhỏ được trích ra từ kinh Pháp Cú nhưng cũng đã cho thấy  được lời dạy của Đấng Từ Tôn  luôn luôn phù hợp trong mọi hoàn cảnh , mọi tình huống,  mọi thời đại và luôn đem lại sự hài hòa, an vui trong đời sống của chúng ta.


Sau đó là phần trình diễn âm nhạc của hai nhóm Hồi và Việt. Lực lượng bên Hồi giáo có phần lớn mạnh hơn vì có tới 6 nhạc công cùng hòa tấu, nào đàn, nào trống nào sáo; nhưng không vì thế mà lấn át tiếng đờn tranh dìu dặt của Anh Tường.


Trời càng về khuya thì không khí của bàn ăn có phần sôi nổi hơn, chúng tôi bắt đầu thấy ngon miệng và ngon cả lời. Vì thế nên sự đóng góp có phần sôi nổi hơn về đời sống gia đình, về kinh tế, về văn hoá về chánh trị v.v.v. Có những chiếc khăn voang choàng trên mái đầu bên cạnh mái tóc vàng óng hay những mái tóc huyền đen kề bên những mái tóc nâu , rồi cùng nhau chia sẻ những nụ cười dí dõm hay những câu pha trò đầy ý nghĩa.


Vậy là buổi lễ thành công tốt đẹp ngoài sức tưởng tượng và mọi người đều hài lòng về ý nghĩa, cách tổ chức  cùng những thức ăn được thưởng thức ngày hôm nay.


Đây phải nói là sự đóng góp của nhiều cá nhân, nhiều cơ quan đoàn thể và do những bàn tay, do những tấm lòng đã vì hạnh phúc, vì lợi ích chung của mọi người. Thượng tọa Thích Phước Tấn và chùa Quang Minh xin ghi nhận công đức của quý vị cùng các đoàn thể sau đây:



  • Ông  Ahmet Orhan Polat, Điều Hợp viên của Hiệp Hội AIS



  • Victorian Multicultural Commissions

  • Victoria Buddhist Council

  • Nhiều Chùa và Nhóm Phật Giáo Bạn Tại Melbourne

  • Ông Melmet Seker Học viên Tiến Sĩ

  • Tiến Sĩ  Zane Ma Rhea Đại học Monash

  • Dân Biểu Marsha Thomson MP

  • Dân Biểu Marlene Kairouz MP

  • Dân Biểu George  Seitz MP

  • Ông Thị Trưởng và các nghị viên của thành phố Maribyrnong, Brimbank và Moonee Ponds

  • Australia Sufi Music Group

  • Nhạc Sĩ Trần Tường.

  • Ban nhà trù và ban công quả chùa Quang Minh



Continue reading →

Thoáng chút hương

0 nhận xét

Melbourne qua những ngày nắng gắt, giờ bắt đầu là mùa thu, với vài chiếc lá vàng rơi, cho ta thấy tính vô thường của vạn vật.


Vẫn biết rằng đây là thời mạt pháp, vẫn biết ngọn đồi chùa Quang Minh không là Ngũ Đài Sơn. Nhưng quý thầy đã noi gương Đại Sư Pháp Chiếu mở Đạo Tràng vân tập đại chúng về tu học trong 7 ngày.





Chúng con đã cố gắng uốn mình trong những ngày qua dưới sự hướng dẫn, giáo hóa của quý thầy . Trong giây phút thiêng liêng của lễ truyền giới, thầy Phước Tấn đã trân trọng truyền trao giới pháp cho chúng con. Chúng con có cảm nhận  kể từ giờ phút này, việc đời gác bỏ ngoài tai. Những rộn ràng tranh chấp, những si mê lầm lạc, xin hãy lui vào trong bóng tối. Giờ thì nhường lại cho ánh sáng quang minh xuất phát từ bao trái tim , bao khối óc của tất cả tu sinh có mặt ngày hôm nay.

Đặc biệt trong khóa tu này , thầy Phước Thái đã mời được Sư cô Phước Liễu, Sư cô Phước Niệm, Sa di ni Huệ Thanh tham dự toàn thời. Đồng thời chúng con cũng ghi nhận có sự hiện diện của Sư cô Phước Huyền, sa di Nghiêm Quang từ chùa Hoa Nghiêm.


Một Tâm Hải hoạt bát trong chánh niệm . Một Diệu Lương gọn gàng trong chương trình. Một Diệu Hải thứ tự trong kinh kệ. Một Chiếu Xuân sốt sắng trong cạo gió giác hơi. Một Hà Ngọc , Diệu Viên, Chiếu Hoằng vững chải trong hành đường cho quý thầy.  Một Lệ Tâm , Tâm Chiếu, Diệu Từ, Diệu Thành , Viên Hảo, Viên Như, Diệu Sương siêng năng trong hành đường cho chúng. Một Diệu Hương, Như Lữ. Diệu Pháp, Viên Thành sạch sẽ trong lau dọn. . Một  Tâm Hải, Diệu Ngọc, Viên Nguyện, Huệ Hiền trang nghiêm trong nghi lễ. Một Chiếu Xuân, Chơn Thọ tươm tất trong trà nước. Một Tâm Sở, Diệu Thọ  chu đáo trong những buổi thọ trai đầy dinh dưỡng. Một Tốn Ngọc, Chơn Trì, Tâm Tiên gọn gàng trong tảo địa. Cuối cùng là một người khiêm nhường không tên rất thiện nghệ trong việc chụp ảnh quay phim tài liệu cho Đạo tràng.


Đây là những bàn tay trong bàn tay đã góp công sức cho sự thành công viên mãn của khóa tu.


Trong các thời thuyết giảng , Thầy Phước Thái đã cho thấy được ý nghĩa  vi diệu của sáu chữ Nam Mô A Di Đà  Phật. Từ đó, ta sẽ thực hành một cách tinh tế hơn pháp môn niệm Phật Ba La Mật.


Chúng con thấy niềm tin về đạo Phật nhiệm mầu càng ngày càng tăng trưởng.Trong cuộc hành trình đi đến đất Phật, chúng con không còn lẻ loi đơn độc nữa, mà luôn có bạn bè thân hữu và đôi khi còn có sự hỗ trợ của cả gia đình nữa. Một điều đáng quý trong khóa tu này là có nhiều gia đình cùng đến tham dự như: gia đình Phật tử Huệ Pháp cùng hai cháu Ngọc và Phương; gia đình Huệ Trân, Huệ Lạc, Tâm Chơn, Tâm Hân; gia đình Nguyệt Điện, Mỹ Linh và Nhật Khánh; gia đình Diệu Liên và cháu Thanh Tâm.


Noi theo hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền Bồ Tát chúng con đã được quý thầy hướng dẫn để thực hiện mười đại nguyện của ngài qua các cách hành trì như : tụng kinh Di Đà, lễ bái trì danh, kinh hành niệm Phật, hội hoa đăng, thiền hành, ngủ hội niệm Phật, thiền định và quán tưởng.


Chúng con cũng xin ghi nhận một vài thay đổi trong khóa tu này.


Thay cho tiếng tụng kinh của máy, thầy Phước Thái đã có sáng kiến dùng những giọng niệm Phật đầy truyền cảm và rất linh động của chính thầy và các bạn sen như Lệ Tâm, Tâm Hải và  Thiện Minh  để trợ duyên cho chúng con trong những bước kinh hành niệm Phật.


Ba tu sinh Viên Thành , Diệu Pháp và Diệu Phụng phát nguyện tịnh khẩu suốt 7 ngày đã thực hiện một cách nghiêm mật. Điều này cho ta thấy được sự tiến bộ của các tu sinh.


Một điều thú vị là trong những buổi tập thể dục mỗi sáng thầy Phước Thái đã tận tình hướng dẫn các tu sinh  những phương pháp tự luyện tập thân thể để có sức khỏe tốt. Nếu chúng con không lầm thì


trong truyện “Thiên Long Bát Bộ” của Kim Dung , có nhà sư Thiên Trúc , tên là Ba Lan đã phải “nằm vùng” trong suốt hơn 10 năm trường mà vẫn chưa lấy được bộ “Dịch Cân Kinh”. Vậy mà , diễm phúc thay cho tu sinh, không cầu mà được và chỉ cần ngủ một đêm sáng ngày là có nguyên  bộ chân kinh sống động trước mắt  và đã được hướng dẫn cặn kẻ vô cùng.Ngoài ra, bộ khí công một  ảnh  hưởng  Thái cực quyền của Trương Chơn Nhơn cũng được hướng dẫn đặc biệt , nhứt là động tác cổ.  Như vậy là hai phái Vỏ Đang và Thiếu Lâm đang sống hòa bình trong mỗi người chúng con.


Trong những ngày qua chúng con cảm thấy thật là an lạc, thật là thanh tịnh và thật là hạnh phúc.


Quý thầy đã dạy: “Nếu muốn sống hòa chúng thì chỉ cần mỗi người tự đặt quyền lợi chúng trên quyền lợi cá nhân”.  Muốn thể hiện được điều này thì ta cần phải có chánh kiến để ta có thể xem kẻ thù là tri kỷ. Mà muốn có chánh kiến thì ta cần phải có chánh niệm có nghĩa là ta phải niệm Phật tinh chuyên để đi đến định và huệ. Như vậy cũng có nghĩa là ta phải có niềm tin vững mạnh và biết xem  sinh tử sự đại là trọng thì ta sẽ cố gắng tu sữa mình trong từng mỗi hoạt động hằng ngày của đời sống như đi đứng, ăn ngủ, nằm ngồi, tư duy, hành động đều phải nằm trong chánh niệm.


Chúng con vẫn còn cảm thấy là sự hướng dẫn của quý thầy rất cần thiết cho việc tu tập của mình. Nên xin nguyện  không những riêng chỉ khóa này mà mãi mãi về sau nếu quý thầy còn mỡ khóa tu là chúng con sẽ còn cố gắng dẹp mọi chướng ngại để đến cùng đồng tu với các bạn đạo và để được tắm mình trong ánh hào quang của chư Phật.


Nam mô A Di Đà Phật

Continue reading →

TỪ BI VÀ BẠO LỰC

0 nhận xét

Trong thành Xá Vệ (xứ Kosala), ai cũng biết Angulimala là một kẻ sát nhân nguy hiểm. Khi nghe tin Angulimala xuất hiện trong thành phố, mọi người đều kinh sợ.


Vua Ba Tư Nặc nghĩ rằng đối với Angulimala, phải huy động cả quân đội mới có thể bắt được. Dân chúng xem Angulimala như ác quỉ, không có tình thương. Tất cả dân chúng trong thành người nào cũng đồng ý là gặp Angulimala thì phải giết, phải tiêu diệt.


Chỉ trừ có một người. Người đó nghĩ rằng trong Angulimala vẫn còn có hạt giống thiện. Người đó là đức Thế Tôn. Nhưng chưa ai có khả năng khơi dậy hạt giống đó, cho nên Angulimala chưa có cơ hội để quay đầu trở thành con người tốt.


Angulimala đã giết rất nhiều người. Mỗi khi giết một người, anh ta cắt một ngón tay, rồi xỏ xâu đeo vào cổ. Nghe nói anh ta đã có 99 đốt xương rồi. Anh ta muốn giết thêm một người nữa cho đủ số 100, để có xâu chuỗi nạp cho tà giáo. Chữ 'mala' trong danh từ Angulimala có nghĩa là xâu chuỗi. Tên thật của Angulimala là Ahimsaka (Kẻ vô tội).


Một buổi sáng, đức Thế Tôn vào thành, đang bưng bát đi khất thực từng bước thảnh thơi thì nghe có tiếng chân chạy phía sau. Ngài biết rằng Angulimala đang đuổi theo, nhưng vẫn bình thản bước đều.


Đức Thế Tôn không cần phải thi thố phép thần thông. Ngài có niềm tin lớn nơi tình thương và trí tuệ của mình để vượt khỏi những tình trạng khó khăn.


Angulimala lớn tiếng gọi: - Tu sĩ kia, đứng lại!


Thế Tôn vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, không chậm hơn. Phong độ của Ngài rất an nhiên tự tại.


Thấy vậy, Angulimala lớn tiếng hơn: - Đứng lại! Tu sĩ kia, đứng lại!


Đức Thế Tôn thản nhiên tiếp tục bước đi, vẻ tự tại vô úy. Angulimala chạy mau hơn chỉ trong khoảnh khắc đã đuổi kịp và la lên: - Tôi bảo ông dừng lại, tại sao không dừng?


Thế Tôn vẫn bước đi, nói với giọng điềm tĩnh: - Này Angulimala! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại.


Chưa bao giờ nghe một câu nói kỳ lạ như vậy, Angulimala ngạc nhiên hỏi: - Ông nói sao? Ông đang đi rõ ràng mà tại sao nói ông đã dừng lại?


Đức Thế Tôn từ tốn nói: - Này Angulimala, trên con đường tạo tác những ác nghiệp thì ta đã dừng lại từ nhiều kiếp rồi. Còn anh, anh vẫn còn đang tiếp tục, anh nên dừng lại!


Lúc đó đức Thế Tôn đứng lại. Angulimala cũng đứng lại. Đức Thế Tôn nhìn thẳng vào Angulimala mà nói: - Anh biết không, ở đời ai cũng sợ đau khổ, ai cũng muốn sống, ai cũng sợ chết. Mình phải biết thương người!


Angulimala la lên: - Trên đời này có ai thương tôi đâu, mà bảo tôi thương họ? Loài người là loài độc ác nhất ở trên đời, tôi muốn tiêu diệt hết loài người cho hả dạ tôi.


Đức Thế Tôn nói: -Này Angulimala, tôi biết anh đã chịu nhiều đau khổ. Cuộc đời đã bạc đãi anh, người ta đã không tử tế với anh, đã làm khổ anh. Anh đâm ra hận thù cuộc đời! Nhưng anh nên biết: hận thù chỉ làm cho mọi người thêm khổ đau, chỉ có tình thương mới đem lại hạnh phúc cho đời mà thôi.


Angulimala la lớn: - Tình thương hả? Ai là người có tình thương, ông chỉ cho tôi coi?


Đức Thế Tôn vẫn dịu dàng: - Anh đã từng gặp vị tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào chưa? Các vị đó không những tôn trọng sinh mạng của con người, họ còn tôn trọng sự sống của loài vật. Họ tôn trọng các loài cỏ cây và đất đá nữa.


Nếu anh gặp được họ, anh sẽ thấy rằng tình thương là cái gì có thật. Khi có tình thương trong lòng, người ta không còn đau khổ nữa.


Hận thù là một khối lửa đốt cháy con người, đốt cháy thế gian. Anh nên quay đầu lại, từ khước bạo lực, trở về với con đường cảm thông và yêu thương.


Những lời nói của Thế Tôn tràn đầy từ bi, phát xuất từ trái tim. Angulimala là một con người thông minh nhưng bị hận thù che lấp.


Nghiệp thiện ngày xưa của Angulimala tác động vào tư tưởng, và anh ta biết rằng mình đang đứng trước mặt Đức Phật Thích Ca. Ngài đã vì lòng thương xót mà đến cứu anh ra khỏi vòng tội lỗi.


Anh ta vứt gươm xuống đất, xin Đức Phật cho được xuất gia. Đức Phật chỉ nói một câu đơn giản: - "Ehi! Bikkhu" (Hãy đến! Tỳ kheo).


Thế nhưng, mặc dù xuất gia, tinh thần của Tỳ kheo Angulimala vẫn không được yên ổn. Thường xuyên, ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu khóc của những người bị ông sát hại. Có hôm, đi khất thực, ông bị quần chúng đuổi đánh, ném đá, ông trở về tu viện, lỗ đầu, chảy máu.


Đức Phật giải thích cho biết, đó là Angulimala trả nợ nghiệp ác cũ của mình. Sau này, Angulimala tu chứng thánh quả A la hán.


Tóm lại, chúng ta thấy câu chuyện Angulimala gặp đức Thế Tôn là một cuộc đấu gươm rất ngoạn mục: Angulimala có thanh gươm của bạo lực và hận thù. Đức Thế Tôn có thanh gươm của trí tuệ và từ bi.


Trên thế gian này, chỉ có từ bi và trí tuệ hóa giải được bạo lực và hận thù mà thôi. Chúng ta hãy suy ngẫm những lời dạy vàng ngọc sau đây của chư Phật, chư Tổ:


Lấy oán báo oán


Oán nghiệp chập chùng


Lấy ơn báo oán


Oán nghiệp tiêu tan


Thắng lợi sinh thù oán


Thất bại chịu khổ đau


Không hơn thua thắng bại


Sống an nhiên tự tại


Người hơn thì thêm oán


Kẻ thua ngủ chẳng yên


Hơn thua đều xả bỏ


Giấc ngủ được bình yên


Hận thù diệt hận thù


Đời đời không thể có


Từ bi xóa hận thù


Định luật đúng thiên thu



Continue reading →

Quan hệ vợ chồng

0 nhận xét


Đề tài nầy nghe quá quen thuộc đối với mọi người nhưng nó có nhiều vấn đề khá phức tạp và quan trọng trong đời sống gia đình của mọi người đang chung sống với nhau trong quan hệ vợ chồng. Câu hỏi đầu tiên cần được đặt ra đây là quan hệ vợ chồng là gì?


Theo nghĩa thông thường dễ hiểu thì quan hệ vợ chồng là sự ràng buộc tình cảm giữa người nam và người nữ sống chung trong một gia đình, chia xẻ nhiều sinh hoạt gần gủi riêng tư, gần như không còn có một khoảng ngăn cách thể xác trong đời sống cá nhân của hai vợ chồng. Chính sợi dây ràng buộc tình cảm vợ chồng nầy quyết định sự bền chặt của mối quan hệ vợ chồng. Tình cảm càng sâu đậm thì mối quan hệ vợ chồng càng bền vững, lâu dài; trái lại, như chúng ta thấy có nhiều cập vợ chồng mới cưới nhau chẳng bao lâu, thì lại chia tay, nhất là trong môi trường xã hội tây phương ngày nay. Như vậy, sợi dây ràng buộc tình cảm vợ chồng được tạo ra như thế nào và làm sao đo lường nó được? Đây mới chính là câu hỏi then chốt trong bài nầy.


Yếu tố tình cảm rất quan trọng trong mối quan hệ vợ chồng, bởi vì ngay từ đầu khi hai người nam và nữ mới quen nhau mà không có cảm tình với nhau thì dĩ nhiên không đưa đến quan hệ tình cảm vợ chồng; tuy nhiên từ tình trạng quan hệ tình cảm ban đầu đến quan hệ tình cảm vợ chồng trải qua rất nhiều giai đoạn với nhiều điều kiện khá phức tạp. Có lẽ vì vậy mà trong xã hội tây phương người ta thường trải qua một thời gian dài tìm hiểu nhau trước khi đi đến hôn nhân. Tuy nhiên, giải pháp nầy vẫn không bảo đảm sự bền vững của quan hệ vợ chồng sau khi hai người chính thức cưới nhau; bằng chứng là hình như trong xã hội tây phương xảy ra nhiều trường hợp ly dị hơn là trong xã hội Á Đông, mặc dù sự ly dị còn liên quan tới nhiều lý do khác nữa.


Trở lại câu hỏi về sợi dây ràng buộc tình cảm vợ chồng được xây dựng như thế nào? - Bằng nhiệt tâm, hy sinh, giúp đỡ và yêu thương nhau chân thật mà cả hai người đều cần phải có! Vì các điều kiện vừa nêu hoàn toàn trừu tượng nên ở đây chúng ta cần đặt ra biện pháp đo lường; nhưng đo lường các hiện tượng tâm lý, tình cảm trừu tượng như vậy là một việc làm vô cùng khó khăn nên chúng ta chỉ có thể dùng phương pháp đối chiếu hành động cụ thể để ước lượng thái độ tâm lý tình cảm giữa vợ chồng mà thôi. Thí dụ một người vợ biết rõ sở thích của chồng và luôn luôn đáp ứng các sở thích đó của chồng chứng tỏ rằng người vợ có nhiệt tâm yêu thương chồng; và trái lại người chồng đối vợ cũng vậy. Có lễ vì muốn trắc nghiệm mức độ tình cảm chân thật nầy mà khi phỏng vấn về mối quan hệ tình cảm hôn nhân để cứu xét đơn xin định cư theo diện hôn nhân, các viên chức Bộ Di Trú thường đặt ra các câu hỏi có liên quan đến sở thich cá nhân như vậy. Đó là trường hợp quan hệ tình cảm hôn nhân ban đầu khi hai người mới cưới nhau hoặc sẽ cưới nhau; trường quan hệ tình cảm hôn nhân giữa hai vợ chồng chung sống với nhau khá nhiều năm rồi thì phương pháp đối chiếu hành động cụ thể để ước lượng thái độ tâm lý tình cảm vợ chồng nhất định còn có hiệu nghiệm hơn nhiều. Một người vợ hay chồng ít khi mua sắm hay đề nghị mua sắm một thứ gì theo nhu cầu hay sở thích của người phối ngẫu mình thì làm sao chứng tỏ được mức độ nhiệt tâm và chân thật trong quan hệ tình cảm vợ chồng? Người ta có thể biện minh bằng lý do “quên”; nhưng quên quan tâm về nhu cầu, sở thích cá nhân của chồng hay vợ là phản ảnh thái độ tiêu cực, thiếu nhiệt tâm và chân thật trong quan hệ tình cảm vợ chồng. Điều nầy khó biện minh hay chối cãi được!


Ngoài ra, “nói lỗi người khác” là điều cấm kỵ trong đạo Phật. Trong quan hệ vợ chồng, điều cấm kỵ nầy càng nên tránh hơn. Nói lỗi người khác, tức là nói ra các khuyết điểm của một người cho người khác nghe. Tại sao người ta không tránh được thói quen “nói lỗi người khác”? – Có thể vì vô tình hay vì ngẫu hứng trong lúc đàm đạo uyên thuyên với bạn bè cho vui miệng chớ người nói không có một thâm ý xấu nào cả. Tuy nhiên sự vô tình hay ngẫu hứng cho vui miệng như vậy lại là một thói xấu cần nên tránh để duy trì hạnh phúc gia đình hay trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Muốn tránh được thói xấu nầy, chúng ta cần quan tâm đến hiểm hoạ của khẫu nghiệp, tức là hậu quả xấu của cái miệng; bởi vậy Đức Phật mới dạy trong Kinh Đại Phước Đức hãy “biết nói lời ái ngữ” như là một trong những điều phước đức lớn nhất. Biết nói lời ái ngữ còn có liên hệ với “Chánh Ngữ’ và “Chánh Kiến” trong Bát Chính Đạo. Không có Chánh Kiến có thể đưa đến tình trạng không có Chánh Ngữ và không “biết nói lời ái ngữ” như Đức Phật đã dạy. Thí dụ một người chồng làm nghề viết lách thường xuyên làm việc với máy vi tính, bà vợ lại cho rằng chồng mình “cứ tối ngày mê cái máy vi tính”! Và tệ hơn nữa là lời bình phẩm không có Chánh Kiến như vậy của bà vợ cứ lập đi lập lai hoài mỗi khi giao tiếp với bạn bè. Ông chồng nghe nhiều lần như vậy cũng bực mình lắm chứ, nhưng không biết làm sao phân giải! Ở điểm nầy, người viết muốn nhắc lại những lời Phật dạy về ái ngữ, chánh kiến và chánh ngữ để mong sao người ta nhớ áp dụng trong đời sống hàng ngày hầu đem lại niềm an vui cho mình và cho người khác.


Tóm lại, muốn duy trì hạnh phúc gia đình, muốn giữ gìn mối quan hệ tình cảm vợ chồng được bền vững, chúng ta không nên chủ quan luôn luôn nghĩ rằng mình hoàn hảo và chỉ nhìn thấy cái lỗi của người phối ngẫu mà quên mất nhiều ưu điểm như đã nhìn thấy từ thuở ban đầu và trong suốt quá trình chung sống với nhau! Hãy quan tâm nói lời ái ngữ, với chánh kiến và chánh ngữ. Hạn chế phát biểu và nhớ rằng càng nói nhiều thì càng có nhiều sai lầm. Lời nói phải mang một ý nghĩa hữu ích nào đó, chớ không nên nói để cho cái miệng mình có “việc làm” mà lại là “việc làm” vô ý thức, gây tổn thương cho người khác! Mong lắm thay!



Continue reading →

Một vài cảm nghĩ về ngày Lễ Vu Lan

0 nhận xét

Khi nói đến Vu Lan ngưòi ta nghĩ ngay đến báo hiếu. Khi nói đến báo hiếu, người ta nghĩ ngay đến hình ảnh Tôn giả Mục kiền liên và bà Thanh Đề. Đây là hai nhân vật chính và cũng là nguyên nhân mà Phật nói Kinh Vu Lan. Vì thế cho nên hàng Phật tử chúng ta mới có Kinh Vu Lan để trì tụng trong mùa báo hiếu.


Xưa nay, ai cũng ca tụng ngài Mục kiền liên là người con chí hiếu. Vì ngài là người cứu thoát mẹ ngài thoát khỏi chốn ngục hình đau khổ. Vì vậy, nên chúng ta noi theo tấm gương hiếu hạnh của ngài mà lo phụng dưỡng ông bà cha mẹ. Ngoài ra, chúng ta còn noi theo hạnh nguyện cao cả của ngài về việc thiết lễ cúng dường trai tăng để cầu nguyện cho cửu huyền thất tổ, song thân phụ mẫu, mong tất cả đều được lợi lạc. Vì những bậc đó là những người có công ơn rất lớn lao, trong việc sanh thành dưỡng dục chúng ta. Người đã giáo dưỡng đào tạo chúng ta trở nên những con người hữu dụng tốt đẹp trong xã hội. Vì vậy mà đạo làm con chúng ta phải luôn ghi nhớ công ơn và phải lo báo đáp.  Đó là một truyền thống hiếu đạo tuyệt vời cao cả mà người Phật tử cần phải noi theo. Buổi lễ cúng dường trai tăng nầy, khởi nguyên từ thời đức Phật còn tại thế.  Buổi lễ được tổ chức trang nghiêm trọng thể vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, là ngày lễ mãn hạ tự tứ của chư Tăng.


Khi đạo Phật du nhập vào đất nước Việt Nam ta, không biết dân tộc ta đã lấy ngày nầy để tổ chức thành ngày đại lễ Vu Lan Thắng Hội trọng thể vào lúc nào? Thú thật là chúng tôi không được rõ lắm. Song có điều, chúng ta thấy, ngày lễ truyền thống nầy nó rất phù hợp với tinh thần hiếu đạo sẵn có của dân tộc ta. Có lẽ vì vậy, mà tổ tiên ta đã lấy ngày rằm tháng bảy (còn gọi là ngày xá tội vong nhân) âm lịch hằng năm, làm ngày đại lễ Vu Lan báo hiếu. Mục đích là để nhắc nhở cho con cháu phải luôn nhớ đến cội nguồn tổ tiên ông bà cha mẹ. Nói rộng ra là phải nhớ đến bốn ân thâm trọng: ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân quốc vương thủy thổ, và ân đàn na thí chủ hay nói rộng ra là ân chúng sanh.



Ơn chúng sanh hằng tâm ghi nhớ
Ơn nước nhà cũng chớ có quên
Ơn Thầy ơn Tổ đáp đền
Ơn cha, ơn mẹ, trọn nên thân người.



Nhân ngày đại lễ Vu Lan, chúng ta thử tìm hiểu khái quát qua đôi nét về hai nhân vật chính trong Kinh Vu Lan, mà người Phật tử chúng ta thường trì tụng trong mùa Vu Lan báo hiếu. Đó là Tôn giả đại hiếu Mục kiền liên và thân mẫu của ngài. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ tìm hiểu lý do tại sao mà bà Mục liên thanh đề được thoát khỏi tội khổ? Và tác dụng ảnh hưởng của sự cầu nguyện đó như thế nào? Đó là chủ đích nhắm tới của bài viết nầy.


Với thâm ý của chúng tôi là để cho người Phật tử chúng ta lấy đó làm một bài học, để chúng ta có thể áp dụng ngay trong đời sống thực tế hằng ngày. Thiết nghĩ, như thế, thì mới thực sự có lợi lạc hữu ích. Thật ra, khi tụng kinh hay dự lễ Vu Lan, đại đa số Phật tử chúng ta chỉ biết có mỗi một việc duy nhất, là chúng ta thành tâm cầu nguyện cho ông bà cha mẹ của chúng ta, kẻ còn người mất đều được thoát khổ, lợi lạc. Việc làm đó, theo thiển nghĩ của chúng tôi, cũng chưa đủ để chúng ta gọi là báo hiếu. Báo hiếu theo tinh thần của người Phật tử, tất nhiên nó phải vượt xa hơn người đời. Không phải chỉ tri ân và báo ân trong phạm vi thân bằng quyến thuộc của chúng ta không thôi, mà còn phải trải rộng lòng tri ân thương tưởng cứu giúp đến muôn loài vạn vật. Đó là chúng ta thật hành theo con đường báo hiếu của Bồ tát đạo.


Bây giờ, trước hết, chúng ta thử tìm hiểu đại khái vài nét về nhân vật chính là bà Mục liên thanh đề. Ở đây, chúng tôi xin miễn nêu ra dong dài về tích truyện huyền thoại của bà. Mà chúng tôi chỉ xin đề cập đến nguyên nhân nào đưa đến cho bà phải chịu cái quả báo cực hình đau khổ như trong Kinh Vu Lan đã diễn tả. Cái quả báo mà bà đã thọ lãnh, nguyên nhân chính yếu là phát xuất từ tâm độc ác của bà. Theo truyện tích đã kể, là bà đã có ác tâm hại chúng Tăng, bằng cách là làm bánh bao bằng nhân thịt chó. Chuyện có hay không, điều đó chúng ta không cần biết đến, mà chúng ta chỉ biết là bà đã phải chịu cái quả báo khổ đau rất thê thảm nơi chốn ngục hình. Trong Kinh Vu Lan nói, là bà bị đọa vào loài ngạ quỷ đói khát.


Khi tụng đọc Kinh Vu Lan, nghe Phật diễn tả về nỗi đau khổ cùng cực của bà, chúng ta rất cảm thông chua xót cho bà, chỉ vì si mê tăm tối mà bà đã tạo ra cái nhân độc ác nên phải chịu lãnh lấy cái quả báo khổ đau như thế. Khi cảm thông cho bà, ta cũng phải nghĩ lại thân phận của ta. Đây là một bài học nhân quả rát bỏng, mà chúng ta phải học từ Kinh Vu Lan. Nếu không gây nhân ác làm gì có quả báo ác?


Thử nhìn vào thế giới hiện tại mà chúng ta đang sống, chúng ta thấy có biết bao nhiêu người đã và đang chịu cái nỗi đau khổ cực hình giống như bà Mục liên thanh đề. Họ cũng đang bị hành hạ khổ sở ngày đêm trong chốn ngục tù, chỉ vì một phút giây vô minh nổi lên, mà họ không tự kềm chế được, rồi hành động gây tạo nghiệp ác, nên phải chịu cái quả báo khổ đau thê thảm không khác gì bà Thanh Đề. Một ác niệm vừa dấy lên trong tâm thức, mà chúng ta không sáng suốt nhận diện chuyển hóa nó, để rồi theo nó mà hành động ở nơi thân hoặc ở nơi miệng, thì chúng ta sẽ lãnh lấy một hậu quả rất là tai hại.


Phật dạy, muốn tránh quả khổ thì đừng có gây nhân khổ. Không giết người, không trộm cướp, không buôn lậu nha phiến, không hiếp dâm làm điều bất chánh v.v… thì làm gì có quả báo khổ đau. Nêu ra hình ảnh bà Thanh Đề để chúng ta coi đó là một tấm gương đau khổ mà chúng ta cần phải tránh. Chúng ta thương bà và chúng ta rất cảm thông nỗi khổ niềm đau của bà, vì bà đã nghe theo tiếng gọi của bọn giặc độc ác vô  minh “Tham, Sân, Si”, mà gây ra phải chịu quả khổ như thế. Đó là chúng ta thấy rõ hình ảnh của một con người đã bị sa đọa.


Một nỗi đau thương thống thiết hơn nữa, là bà tuy đói khát thèm thuồng đủ mọi thứ, nhưng tiếc thay nào bà có ăn được thứ gì! Cơm đưa chưa đến miệng bà, thì cơm kia đã hóa thành than lửa. Bà không thể nào ăn được. Lửa đó là lửa tham lam, lửa sân hận, lửa si mê, lửa bỏn xẻn, keo kiết v.v… nó bốc cháy dữ dội thiêu đốt cả tâm can của bà. Ngày nay, cũng có không biết bao nhiêu kẻ lâm vào tình trạng đói khát kêu la giống như bà Thanh đề. Họ là những con người bất hạnh thật tội nghiệp đáng thương! họ đi lang thang thất thểu rày đây mai đó như con ma đói. Chẳng những họ đói khát về vật chất không thôi, mà họ còn đói khát rất nhiều về tình thương. Cái đói khát nầy mới thật là dày vò đau khổ, xé nát tâm can của họ. Quả đúng như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã nói:



Đòi những kẻ thiên ma bách chiết
Hình thì còn, bụng chết đòi nau
Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra…



Hình hài thân xác của họ thì còn đó, nhưng tâm hồn của họ thì đã chết từ lâu rồi! Họ chỉ kéo lê cái thân xác héo mòn tàn tạ rạc rài đi trong bóng tối si mê của cuộc đời mong tìm kiếm van xin một chút tình thương. Chỉ cần một chút tình thương của những con người giàu lòng nhân ái, nhỏ cho họ một giọt nước cam lồ từ bi tươi mát. Họ rất cần sự cứu giúp của mọi người. Được thế, quả họ cảm thấy rất ấm lòng. Vì họ là những người đang bị vướng vào cái “móc khổ bị treo ngược”. Họ rất cần những người có đôi mắt “từ nhãn thị chúng sanh” của hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm để an ủi xoa dịu những nỗi khổ đau thống thiết rát bỏng của họ. Giúp đỡ thi ân cho những con người bất hạnh nầy, đó là người Phật tử đã làm một nghĩa cử rất cao đẹp. Hiện nhơn loại rất cần những bàn tay từ bi và đôi mắt tuệ nhãn nầy. Người Phật tử luôn tâm niệm rằng: “Dẫu xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Mang sức sống đem lại nguồn vui yêu thương đến cho mọi loài, đó là ta đã thể hiện tấm lòng hiếu đạo vị tha cao cả rộng lượng của Bồ tát rồi vậy.


Bên cạnh đó, lại có một hình ảnh của một con người giải thoát. Đó là Tôn giả Mục kiền liên. Điều nầy cho chúng ta thấy, bên cái ác lại có cái thiện. Nếu ác không thì làm sao con người sống nổi? Mà nếu thiện không thì thế giới nầy đã trở thành Cực lạc huỳnh kim rồi. Vì cõi đời là tương đối, chúng ta chưa vượt thoát khỏi vòng đối đãi nhị nguyên, nên chúng ta mới có khổ. Nói rõ hơn, trong tâm thức của chúng ta có hai loại hạt giống: thiện và ác. Nhưng ác thì bao giờ cũng nhiều hơn thiện. Thực tế, nhìn vào trong xã hội loài người, ta thấy rất rõ điều đó.


Điều mà chúng ta cũng nên suy gẫm, bà Thanh Đề khi bà thọ khổ, còn có ngài Mục kiền liên tìm cách cứu thoát cho bà. Còn nếu như chúng ta tạo nghiệp ác, khi rơi vào địa ngục, thì thử hỏi ai là người cứu chúng ta đây? Thường người ta có thói quen hay nhìn phiến diện. Nói đến ngài Mục kiền liên, người ta chỉ biết ngài là người con chí hiếu, nhưng ít ai nghĩ đến khía cạnh tu hành giải thoát của ngài. Ngài là người có thần thông đệ nhất. Tại sao ngài được như thế? Có phải là do ngài nỗ lực công phu tu hành gạn lọc hết phiền não mà được như thế không? Như vậy, khi nói đến ngài, ta phải noi theo tấm gương sáng của ngài qua hai phương diện: “lòng hiếu thảo và sự tu hành dứt hết phiền não”. Nói gọn là noi theo tấm gương giải thoát của ngài. Như vậy, mới đúng là người Phật tử khi nghĩ đến ngài.


Nhưng mặc dù ngài là người con chí hiếu, có đủ thần thông lực dụng, nhưng tại sao ngài không thể cứu thoát mẹ ngài khỏi chốn ngục hình, mà ngài phải khẩn cầu đức Phật chỉ dạy? Đó là điều mà thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên suy gẫm. Ở đây, cho ta thấy luật nhân quả rất công bằng. Ai làm người đó chịu, ai ăn người nấy no. Không ai có thể ăn thế cho ai, hay chịu tội thế cho ai được cả. Và cũng không có một bàn tay thần thánh nào có thể cứu được. Nếu như ngài dùng thần thông cứu mẹ ngài được, thì thử hỏi luật nhân quả còn có tác dụng gì nữa không? Nhân quả còn có công bằng nữa hay không? Nếu thế, thì không thành luật nhân quả và chính ngài mắc phải cái tội là phá luật nhân quả mất rồi.


Do đó, nên ngài phải cần cầu đến tha lực. Tha lực đó là nhờ thần lực chú nguyện của Phật và Thánh chúng. Đó là một tăng thân ( sangha body ) tu hành thanh tịnh. Chúng ta nên biết rằng, đây chỉ là trợ duyên tốt thôi, chớ không phải là do sự chú nguyện đó, mà bà Mục liên thanh đề thoát khổ. Nếu hiểu như thế, thì ta hoàn toàn ỷ lại vào tha lực, đó là điều trái với tinh thần giác ngộ của đạo Phật. Ta cần lưu ý điểm nầy. Chẳng qua sự chú nguyện đó, nó chỉ có tác động ảnh hưởng làm cho bà Thanh Đề thức tỉnh tự hối cải và phát tâm hướng thiện, mà chính bà phải tự cởi trói cho bà. Vì bà tự cột thì chính bà phải tự tháo gỡ. Ngoài ra, tất cả đều là những trợ duyên phụ thuộc mà thôi.


Hiểu thế, thì mới không trái với luật nhân quả. Nếu không, thì con người tha hồ tạo ác, rồi sau khi chết nhờ Tăng Ni tụng kinh chú nguyện cho liền được siêu thoát. Nghĩ thế, thì chúng ta tự chuốc quả khổ hệ lụy cho mình. Không ai có thần lực làm cho mình hết khổ được cả. Khi mình gây tạo nghiệp ác, thì chính cái nghiệp ác đó nó có một năng lực trói chặt mình lại. nếu như mình muốn tháo gỡ nó ra, thì cũng chính mình phải tự tháo gỡ lấy. Tốt hơn hết, là chúng ta không nên gây tạo nghiệp ác để rồi phải chiêu cảm quả báo thọ khổ. Chừng đó, chúng ta có than khóc thống trách thì cũng đã quá muộn màng lắm rồi! Chi bằng tránh nhân thì không có quả. Chúng ta nên nhớ câu: “Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến cái hậu quả của nó”. Được vậy, thì không còn gì phải lo sợ cái quả báo xấu xa nữa.


Tóm lại, cả hai hình ảnh mà chúng ta thấy, đều là tấm gương sáng để chúng ta lấy đó làm bài học hành xử trong cuộc đời. Khổ hay vui, giải thoát hay buộc ràng, tất cả đều do chúng ta tự tạo lấy. Nói theo Kinh Hoa Nghiêm thì, “tất cả đều do tâm tạo”. Địa ngục hay Niết bàn cũng đều do mình tạo lấy. Nhân nào quả nấy là vậy. Chúng ta nên tin chắc vào luật nhân quả để hành hoạt trong đời sống. Tránh nhân ác thì sẽ không bao giờ gặt hái quả ác.


Qua Kinh Vu Lan, chúng ta thấy Phật chỉ cho chúng ta một hướng sống giải thoát thực tế. Chính mình phải chọn cho mình một con đường thoát khổ. Đồng thời cũng nói lên phẩm hạnh đạo đức qua cung cách hành xử trong gia đình và ngoài xã hội. Đó là đức Phật nhằm khuyến nhắc mọi người, nhất là người Phật tử phải nên lấy đạo đức làm căn bản trong đạo xử thế. Vì hiếu đạo là cội nguồn, là mạch sống của sự sống. Nhờ có lòng tri ân và báo ân, mà đời sống của con người mới thăng hoa tươi đẹp và nó sẽ mang lại ý nghĩa thắm đượm tình người nhiều hơn. Và cũng nhờ đó mà nhơn loại sẽ biết yêu thương nhau hơn và tránh gây đau khổ cho nhau. Vì máu chảy thì ruột phải mềm! Không gây khổ đau cho nhau, thì đời sống của con người mới thực sự có ý nghĩa và mới có được an lạc hạnh phúc. Chiến tranh hay hòa bình đều phát xuất từ tâm thức của con người mà ra.


Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu, chúng tôi xin thành tâm kính chúc mọi người cùng nhau hướng về mục đích chung: xây dựng tình người, làm thăng hoa cuộc sống và mang lại nhiều lợi lạc đến cho mình và tha nhân. Kính chúc toàn thể trọn hưởng một mùa Vu Lan an bình và hạnh phúc.



Continue reading →

Bậc giác ngộ & kẻ khủng bố

0 nhận xét

Trong thành Xá Vệ, ai cũng biết Angulimala là một kẻ sát nhân. Khi nghe tin Angulimala xuất hiện trong thành phố, mọi người đều sợ hãi. Có một lần một toán cảnh sát năm chục người đi vào rừng để tìm Angulimala...

Nhưng năm mươi người cảnh sát đó đi vào rừng không thấy trở về. Họ đã bị Angulimala giết hết. Điều này càng làm cho mọi người kinh sợ. Vua Ba Tư Nặc nghĩ rằng đối với Angulimala, một toán cảnh sát không đủ, phải huy động cả quân đội mới có thể bắt được Angulimala. Dân chúng trong thành Xá Vệ có hình ảnh về Angulimala là một kẻ sát nhân. Họ có hình ảnh về Angulimala như một ác quỷ không có khả năng hiểu và thương. Tất cả dân chúng trong thành người nào cũng đồng ý là gặp Angulimala thì phải giết, phải tiêu diệt. Chỉ trừ có một người.


Người đó nghĩ rằng trong Angulimala vẫn còn có hạt giống tốt còn lại. Người đó là Đức Thế Tôn. Nhưng mà từ trước tới nay chưa ai có khả năng chạm vào hạt giống đó, cho nên Angulimala chưa bao giờ có cơ hội để trở thành con người tốt. Buổi sáng hôm đó, Thế Tôn cầm bát đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Một Phật tử mời Ngài vào trong nhà và thưa rằng: "Bạch Đức Thế Tôn, đi khất thực ngày hôm nay rất nguy hiểm, tại vì Angulimala đang có mặt trong thành phố. Kính xin Đức Thế Tôn ở lại đây, con sẽ cúng dường cơm cho Ngài. Và xin Ngài nghỉ lại đây. Đợi con nghe tin tức, khi biết rằng tình trạng có an ninh, thì lúc đó con thỉnh Đức Thế Tôn về lại tu viện Kỳ Viên". Nhưng Bụt nói: "Đạo hữu đừng lo! Không sao đâu! Nếu tôi có gặp Angulimala thì tôi cũng có cách để tự vệ. Đôi khi tôi có thể giúp được Angulimala nữa". Người Phật tử đó không tin lắm, tại vì ông thấy Bụt rất hiền từ, còn Angulimala rất hung hãn. Angulimala có một thanh đao, còn Bụt thì không có một thứ vũ khí nào cả. Nhưng người Phật tử đó lầm! Bụt cũng có một thanh gươm, đó là thanh gươm của trí tuệ. Ta sẽ chứng kiến cuộc so gươm của Bụt với thanh đoản đao của Angulimala.


Angulimala đã giết rất nhiều người. Mỗi khi giết một người, anh cắt một ngón tay, lấy một đốt xương và xoi một cái lỗ, rồi anh xỏ cái đốt xương đó vào trong cái tràng xương để đeo vào cổ. Ngày hôm đó nghe nói anh ta đã có cái vòng của 99 đốt xương rồi. Anh ta muốn giết thêm một người nữa cho đủ số 100, để có xâu chuỗi làm hoàn toàn bằng xương người. Chữ mala trong danh từ Angulimala có nghĩa là xâu chuỗi. Đức Thế Tôn đang bưng bát đi từng bước thảnh thơi thì nghe có tiếng chân chạy rầm rập phía sau lưng. Với linh khiếu bén nhạy, Ngài biết rằng Angulimala đang đuổi theo, nhưng Ngài vẫn bình tĩnh đi. Ngày xưa, Sĩ Đạt Ta cũng giỏi về võ thuật. Nhưng vũ khí của Đức Thế Tôn là lòng thương và trí tuệ của Ngài. Kinh sách hay nói là mỗi khi gặp trường hợp nguy hiểm thì Đức Thế Tôn trổ ra những phép thần thông. Nhưng Đức Thế Tôn đâu cần phải thi thố những phép thần thông. Đức Thế Tôn có dư từ bi, có dư trí tuệ để vượt khỏi những tình trạng khó khăn. Đức Thế Tôn có niềm tin lớn nơi tình thương và trí tuệ của mình.


Đức Thế Tôn vẫn bước những bước vững chãi và thảnh thơi, và đề cao cảnh giác. Angulimala lớn tiếng gọi: "Ông thầy tu, đứng lại!". Bụt vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, cũng không chậm hơn. Phong độ của Ngài rất thảnh thơi và ung dung. Thấy vậy, Angulimala lớn tiếng hơn nữa: "Đứng lại! Ông thầy tu đứng lại!". Đức Thế Tôn làm như không nghe, cứ tiếp tục đi. Angulimala lấy làm lạ. Từ trước đến nay, hễ mình lên tiếng một cái là ai cũng sợ run không cử động được nữa, mà tại sao ông thầy tu này lại quá ung dung, lại có vẻ là hoàn toàn vô úy. Angulimala chạy mau tới để coi thử ông thầy tu này là ai, mà cả gan như vậy. Chỉ trong khoảnh khắc là Angulimala đã đi ngang hàng với Bụt. Angulimala nói: "Tôi bảo ông dừng lại, tại sao ông không dừng?". Bụt vẫn đi, và với sự điềm tĩnh và giọng nói dịu dàng, Bụt nói: "Angulimala! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại". Từ trước đến giờ, chưa bao giờ Angulimala nghe một câu nói như vậy. "Ông nói sao? Ông đang đi rõ ràng mà tại sao ông nói ông đã dừng lại? Tôi không hiểu, ông cắt nghĩa đi!". Đức Thế Tôn, một cách rất bình thản, nói: "Angulimala, trên con đường tạo tác những ác nghiệp thì ta đã dừng lại từ nhiều kiếp rồi, nhưng trên con đường tạo tác ác nghiệp, anh vẫn còn tiếp tục, thì anh nên dừng lại''. Câu nói đã làm rung động Angulimala.


Lúc đó Đức Thế Tôn mới dừng lại. Angulimala cũng dừng lại. Hai người nhìn nhau. Đức Thế Tôn nhìn thẳng vào Angulimala mà nói rằng: "Anh biết không! Ở đời ai cũng sợ đau khổ, ai cũng muốn sống, ai cũng sợ chết. Mình phải biết thương người". Angulimala mới la lên: "Trên đời này có ai thương tôi đâu, mà bảo tôi thương họ? Loài người là loài độc ác nhất ở trên đời, tôi muốn tiêu diệt hết loài người cho hả dạ tôi". Đức Thế Tôn nói: "Angulimala, tôi biết anh đã đau khổ nhiều. Cuộc đời đã bạc đãi anh, người ta đã không tử tế với anh, người ta đã làm khổ anh. Nhưng anh nên biết: hận thù chỉ làm cho mình thêm khổ đau, chỉ có lòng thương mới đem lại hạnh phúc cho đời mà thôi". Angulimala la lớn "Tình thương hả? Ai là người biết thương? Ông chỉ cho tôi coi?". Đức Thế Tôn vẫn dịu dàng: "Anh đã từng gặp vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào chưa? Các vị đó không những biết tôn trọng sinh mạng của những con người mà họ cũng biết tôn trọng sự sống của cả loài vật. Họ cũng tôn trọng các loài cỏ cây và đất đá nữa. Nếu anh gặp được một vị Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo ni, anh sẽ thấy rằng tình thương là cái gì có thật. Khi có tình thương trong lòng, ta không còn đau khổ nữa. Hận thù là một khối lửa đốt cháy ta, đốt cháy thế gian. Anh nên quay đầu lại, từ khước bạo động, trở về với con đường của hiểu và của thương". Những lời nói của Bụt tràn đầy tính chất từ bi, phát xuất từ trái tim. Angulimala là một con người thông minh nhưng bị hận thù che lấp. Gặp được một con người như Bụt khai mở, anh có cơ hội để cho hạt giống của trí tuệ được tưới tẩm. Anh nói: "Tôi có nghe tới một ông thầy tu rất dễ thương, tên là Gotama, có phải ông là Gotama không?". Bụt nói: "Đúng! Tôi là Gotama". Angulimala nói: "Gotama ơi! Bây giờ trễ rồi. Dù tôi có muốn ăn năn, dù tôi có muốn từ bỏ con đường hận thù để đi theo con đường tình thương thì cũng đã muộn. Tôi không có nẻo thoát, tôi đã gây ra quá nhiều tội lỗi". Đức Thế Tôn im lặng. Rồi Ngài nói: "Angulimala, nếu anh thật sự muốn chuyển hóa, muốn từ bỏ con đường bạo động, thì tôi sẽ che chở cho anh. Nếu anh muốn, tôi có thể tiếp nhận anh vào Tăng đoàn làm người xuất gia. Anh sẽ thực tập Từ, thực tập Bi, anh sẽ trở thành một con người mới, anh sẽ làm lại cuộc đời của anh". Nghe Bụt nói như vậy, Angulimala rút cây đao liệng xuống đất, rồi quỳ xuống chắp tay lại và xin làm đệ tử của Đức Thế Tôn. Vào lúc ấy, các thầy, trong đó có thầy Xá Lợi Phất đi tới. Thấy Đức Thế Tôn đang đứng đó, không bị thương tích gì cả mà Angulimala lại đang quỳ dưới chân Ngài, các thầy mừng rỡ. Đức Thế Tôn nói: "Thầy Xá Lợi Phất, thầy A Nan, các vị có cái y nào không? Bây giờ chúng ta hãy làm lễ xuất gia cho Angulimala xuống tóc ngay tại đây". Thầy trò bao quanh lại làm thành một vòng tròn, và làm lễ xuống tóc cho Angulimala. Sau khi cạo đầu cho Angulimala, các thầy mặc cho Angulimala một chiếc y Khất sĩ (sanghati). Bụt dạy thầy Xá Lợi Phất và các thầy khác đưa Angulimala về tu viện và dạy cho thầy cách nâng bát, cách ngồi, cách đứng, cách đi, cách thở. Chúng ta thấy câu chuyện Angulimala gặp Bụt là một cuộc đấu gươm rất ngoạn mục. Angulimala có thanh gươm của bạo động và hận thù. Đức Thế Tôn có thanh gươm của trí tuệ và từ bi.


Khi chúng ta dán được vào người nào đó một cái nhãn hiệu sát nhân cần phải xử trảm, thì chúng ta có thể chĩa súng mà bắn người ấy không gớm tay. Nhưng nếu ta còn thấy được đó vẫn là một con người thì ta không thể nào bóp cò súng được. Vì vậy muốn giết ai đó, thì chúng ta phải cố nghĩ rằng: người này chỉ là ác quỷ, không còn một chút thiện trong tâm. Thanh gươm của Đức Thế Tôn, trước hết là để chém đứt cái khái niệm đó. Tại vì ta muốn giết ai, thì phải có khái niệm ác quỷ về người đó. Văn hóa của chúng ta bây giờ là như vậy. Chúng ta đi dán nhãn hiệu cho nhau.


Sau khi xuất gia, Angulimala đã trở thành một vị Khất sĩ giỏi, thầy tu tập chuyển hóa mau chóng còn hơn nhiều vị Khất sĩ khác. Cho đến nỗi các bạn đồng tu đã đặt cho Angulimala một cái tên mới là Ahimsaka, tức là bất bạo động. Có một lần Angulimala đi khất thực về khóc với Đức Thế Tôn. Bụt hỏi: "Tại sao con khóc?". Angulimala nói rằng: "Bạch Đức Thế Tôn, trên đường đi khất thực con gặp một người đàn bà sắp sinh nở, nhưng bà đau quá sinh nở không được. Bà nhờ con đem tâm từ bi để chú nguyện cho bà, mà con không biết làm sao để chú nguyện cho được. Con thấy người ta sắp chết mà mình không cứu được cho nên con khổ quá". Đức Thế Tôn dạy: "Thầy Ahimsaka, thầy hãy trở lại với người đàn bà đó và nói rằng: Từ khi tôi sinh ra cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại một người nào, nhờ công đức đó mà bà có thể sinh con một cách bình an". Thầy Ahimsaka mới la lên: "Bạch Đức Thế Tôn, con không thể nói được như vậy! Từ khi sinh ra, con đã sát hại rất nhiều". Đức Thế Tôn nói: 'Không! Ta không muốn nói tới ngày sinh ra của cái sắc thân này. Thầy hãy đi nói với người phụ nữ kia rằng: Từ ngày tôi sinh ra trong đạo pháp cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ sát hại bất cứ một sinh mạng nào, dù nhỏ như một con sâu con kiến. Nhân danh công đức đó, tôi muốn cho bà sinh cháu bình an". Đức Thế Tôn vừa dứt lời, Angulimala liền chạy vụt đến nơi người đàn bà đang nằm đau đớn chờ sanh, và nói câu đó với bà. Thật mầu nhiệm! Bà ta sinh con một cách dễ dàng. Một hôm khác, Angulimala đi khất thực về và lết vào tu viện. Có một người ngày xưa nhận ra được thầy là Angulimala ngày trước. Ông ta đã dùng gậy đánh


Angulimala tơi bời, Angulimala thực tập pháp bất bạo động nên không chống trả. Mình mẩy của thầy sưng lên bầm tím, có chỗ chảy máu. Đức Thế Tôn đi ra thấy Angulimala như vậy liền bảo các thầy khiêng thầy ấy vào hậu liêu và chăm sóc. Trong khi các thầy chăm sóc cho Angulimala, lấy nước muối rửa các vết thương và băng bó, thì Đức Thế Tôn nói: "Con hãy ráng chịu đựng đi. Đây là cái quả cuối cùng mà con phải nhận chịu trước khi con trở thành A la hán". Sự chuyển hướng của Angulimala là một thành công lớn. Không phải chỉ của Angulimala mà của cả một truyền thống và của tất cả chúng ta. Khi ta chuyển hướng, thì ta được sinh ra trở lại lần thứ hai. Chúng ta phải để cho Angulimala có một cơ hội sinh ra lần thứ hai. Phúc âm nói: "Ai là người thấy mình không có tội thì hãy ném viên đá vào người đàn bà này". Tất cả chúng ta đều có lầm lỡ trong quá khứ, đã gây khổ đau cho người khác. Chúng ta phải biết rằng trong con người chúng ta cũng có hạt giống của bạo động, của hận thù, của vô minh. Nhưng chúng ta cũng phải tin rằng trong con người của chúng ta cũng có hạt giống của hiểu biết, của thương yêu, của khả năng chuyển hướng.


Nếu các nhà lãnh đạo như Tony Blair, hay Georges Bush v.v... có được những nhà cố vấn có khả năng tưới tẩm hạt giống của hiểu và của thương trong họ thì các vị đó sẽ có những chính sách khác hơn, sẽ không mỗi ngày tạo ra thêm nhiều hận thù, nhiều khổ đau. Từ ngày khởi sự cuộc chiến ở Iraq, hận thù đã được nuôi dưỡng rất nhiều, và người Mỹ đã tạo thêm rất nhiều kẻ thù cho nước Mỹ. Nước Mỹ là một nước rất đẹp, trẻ em Mỹ rất dễ thương, và chúng ta muốn cho nước Mỹ phồn thịnh, đẹp đẽ để làm chỗ nương tựa cho nhiều quốc gia khác. Nhưng nước Mỹ đang đi trên một con đường tạo ra rất nhiều kẻ thù cho chính nước Mỹ. Vì an ninh mà nước Mỹ đã tạo ra một tình trạng không an ninh. Hàng ngàn thanh niên Mỹ đang chết tại Iraq, gần mười ngàn lính Mỹ đã bị thương. Có những người bị thương rất nặng. Vì vậy cho nên lời dạy của Tổ Lâm Tế vẫn còn có hiệu lực trong ngày hôm nay.


Chúng ta phải dùng lưỡi gươm trí tuệ để chặt đứt những tri giác sai lầm, những cái thấy hẹp hòi của chúng ta về chính chúng ta và về người. Chúng ta đừng tự dán cho chúng ta nhãn hiệu của sự thánh thiện, của sự vô tội. Chúng ta đừng vội dán vào người nhãn hiệu của tội lỗi, của tàn ác. Tại vì trong tất cả chúng ta, người nào cũng có hạt giống của tàn ác, của hận thù, của vô minh, nhưng người nào cũng có hạt giống của tình thương, của sự hiểu biết. Chúng ta hãy tổ chức cuộc sống hàng ngày như thế nào và thiết lập liên hệ giữa con người với con người như thế nào, giữa quốc gia và quốc gia như thế nào, để cho mọi người đều có cơ hội trở về tưới tẩm hạt giống tốt ở trong con người của mình. Đó là con đường tương lai của chúng ta.


Khi ta niệm Bụt có thể ta không biết Bụt là ai và ta là ai. Ai là người niệm Bụt? Ai là Bụt? Ta cầu nguyện Chúa, nhưng có thể ta chưa biết Chúa là ai. Ta không biết ta là ai? Ta có thể nhân danh ta, ta có thể nhân danh Chúa để sát hại. Vì vậy cho nên lưỡi gươm thần của trí tuệ rất là quan trọng. Chúng ta phải là những chiến sĩ, phải sử dụng được lưỡi gươm thần trí tuệ để chặt đứt tất cả những ảo giác, những tri giác sai lầm của chúng ta. Hãy phá bỏ tất cả những nhãn hiệu mà chúng ta thường muốn dán vào nhau để có thể tiêu diệt lẫn nhau. Đây là vấn đề chính của xã hội, của thế giới chúng ta trong ngày hôm nay.



Continue reading →

Lễ Bái Trì Danh Kinh Hành Niệm Phật

0 nhận xét

Mỗi lần dự khóa tu Kết Kỳ Niệm Phật tại đạo tràng Quang Minh, tôi thích nhất là thời Lễ Bái Trì Danh Kinh Hành Niệm Phật. Không những riêng tôi thích, mà hầu như các bạn sen khác ai ai cũng thích giống như tôi. Thú thật, lúc đầu tôi rất là bỡ ngỡ, trong lúc lạy xuống đứng lên đúng theo cách thức mà thầy Phước Thái đã hướng dẫn chỉ dạy cho chúng tôi. Dù thầy đã hướng dẫn chỉ dạy chúng tôi rất tận tường kỹ lưỡng, nhưng tôi cứ làm sai hoài. Tôi là người hay bị thầy theo dõi chú ý sửa sai nhiều nhứt. Vì mỗi lần lạy xuống, tôi thường ngóc đầu lên trước thiên hạ. Thầy đứng phía sau chúng tôi, nên thầy nhìn thấy rất rõ. Cứ mỗi lần làm sai, thầy liền đến bên tôi và nói nhỏ: “cô nhớ ngóc đầu lên cho đúng nhịp nhàng với những người khác. Phải luôn để tâm lắng nghe và theo dõi câu niệm Phật của những người khác. Ðến chữ Phật của câu thứ bảy, thầy lặp lại hai lần, là chữ Phật của câu thứ bảy, thì cô mới đứng lên, và khi nghe tiếng chuông rồi mới xá xuống. Cô ráng cố gắng nhớ mà thật hành cho đúng nhe!”


Tôi cám ơn thầy rồi xá xuống và nghe theo lời thầy thức nhắc căn dặn. Nhưng khổ nỗi, chỉ nhiếp tâm làm đúng được một lúc, thì tâm tôi lại tán loạn phóng nghĩ chạy đi nơi khác. Thế là tôi lại làm sai lời thầy dặn nữa rồi! Có khi ngóc đầu lên, nhìn thấy mọi người còn đang quỳ mọp, tôi giựt mình và rồi quỳ mọp đầu xuống bồ đoàn lại tiếp. Có lúc, người ta đứng lên hết rồi, mà riêng tôi thì còn quỳ mọp, giống như người nằm vạ vậy. Mỗi lần nhớ lại hình ảnh đó, tôi không khỏi hổ thẹn mà cười thầm cho mình. Hai bà bạn ở hai bên tôi, thường hay khều móc tôi để ngóc đầu lên cho đúng. Những lúc tâm tôi xao lãng, tạp niệm nhớ nghĩ lăng xăng, không chú ý theo dõi câu niệm Phật để đứng lên cho đúng, nên tôi cứ bị thầy thường hay đến nhắc nhở. Chỉ có chừng ấy việc mà tôi cứ làm sai hoài. Thật nghĩ mà buồn tủi cho mình sao quá tối dạ nghiệp chướng gì mà quá sâu nặng như thế!


Tôi phập phòng lo sợ, thầy mà nói ra giữa đại chúng, thì chắc là tôi phải “quê” lắm. Nhưng thầy chỉ nhắc riêng tôi thôi, chớ thầy không có nói ra trước đại chúng. Hú hồn, tôi đã qua phà! Thật lòng con xin cám ơn thầy nhiều lắm. Tôi biết bệnh loạn tưởng của tôi nặng lắm, nên khi ở nhà niệm Phật, tôi cố gắng nhiếp tâm làm đúng theo lời thầy dạy, không để tâm nghĩ ngợi chuyện gì khác.


Mỗi lần niệm Phật công cứ, tôi quyết tâm tập trung tư tưởng lại, dẹp bỏ hết mọi duyên trần chuyện thị phi, để tâm chuyên chú vào câu hiệu Phật. Tôi nhớ có lần thầy nói: “niệm Phật mà tâm không niệm, chỉ có miệng niệm suông không thôi, thì chẳng khác gì cái máy niệm Phật. Pháp niệm Phật là tâm và miệng phải hợp nhứt với nhau và phải niệm câu hiệu Phật cho thật rành rẽ, rõ ràng.  Niệm như thế, mới được lợi ích”. Nhớ lời thầy dạy, mỗi lần niệm Phật, tôi cố gắng nhiếp tâm mà niệm, quyết không không để tâm chạy rong chuyền nhảy lung tung như con vượn, con khỉ nữa. Tôi tập như thế lâu ngày, tôi cảm thấy mỗi khi niệm Phật, tâm tôi được an ổn bớt tán loạn hơn trước kia nhiều.


Từ đó, mỗi lần lễ bái trì danh, tôi lạy xuống đứng lên không còn lộn xộn như trước kia nữa. Và thầy cũng không có đến đứng bên tôi nữa. Trước kia, mỗi lần thấy thầy đi tới đi lui kiểm soát, tôi rất lo sợ. Nhất là thầy đứng chú ý coi tôi khi tôi lạy xuống, thấy thế, tôi lại càng hồi hộp lo sợ hơn nữa. Nhờ thầy nhắc nhở, nên tôi cố gắng làm theo. Do đó, trải qua nhiều khóa tham dự tu học, tôi thấy rất là bổ ích cho tôi. Bây giờ, thú thật với các bạn, tôi không còn cái nỗi lo sợ như trước kia nữa. Nhờ dự tu nhiều khóa, nên bây giờ tương đối, tôi đã khá thuần thục nhuần nhuyễn hơn. Mình tu học giống như đứa học sinh đi học. Chỉ cần cố gắng siêng năng học hành, chắc chắn là học sinh phải có tiến bộ lên lớp thôi. Chả lẽ, cứ dậm chân tại chỗ hoài sao?!


Và cũng từ đó, tôi cảm nhận ra rằng, niệm danh hiệu Phật,  rất có hiệu quả cho sự nhiếp tâm. Chỉ cần tập trung chú tâm vào câu hiệu Phật, thì mọi vọng tưởng lăng xăng, chúng không còn có cơ hội dẫn dắt mình đi lang thang nơi nầy nơi khác. Tôi còn nhớ có thầy lần dẫn câu: “Chế tâm nhứt xứ vô sự bất biện” trong Kinh Di Giáo Phật dạy để thức nhắc chúng tôi. Thật vậy, nếu mình cố gắng chuyên nhứt chú tâm vao một chỗ, thì không có việc gi mà chẳng xong. Như mình chuyên chú vào câu Phật hiệu, thì mọi vọng tưởng sẽ không có. Tôi ghi nhớ mãi trong lòng lời dạy nầy. Thú thật, được hành lễ chung với đại chúng, tôi cảm thấy rất là an lạc hạnh phúc.


Ngoài việc lễ bái trì danh kinh hành niệm Phật ra, thầy còn cho chúng tôi có hai buổi tối thắp nến niệm Phật. Niệm Phật bằng cách thắp nến nầy, tôi cũng lại rất thích. Cứ mỗi khóa tu, thầy cho chúng tôi có hai thời hành trì như thế. Nhìn ngọn đèn cháy sáng ở trước mặt, tôi cảm thấy sao mình còn u mê tối tăm quá! Nghiệp lực của mình còn quá sâu dày. Sự đau khổ của mình không biết đến bao giờ mới thật sự chấm dứt đây! Nghĩ thế, bỗng tôi cảm thấy rất là chua xót não lòng cho cái nghiệp lực của mình sao mà nó quá sâu nặng. Nặng còn hơn quả núi Tu di nữa đó các bạn sen ơi!


Phải chăng, đây cũng là cách mà thầy bày ra để nhắc nhở chúng tôi phải niệm Phật bằng tất cả giữ chánh niệm và có trí huệ chiếu soi. Có trí huệ chiếu soi sáng suốt như ngọn đèn, tất nhiên tâm mình không còn bị vô minh che mờ sai sử mình nữa. Mình không còn cam tâm làm nô lệ cho chúng sai khiến. Bao thứ tạp niệm tối tăm đều bị phá tan, như ngọn đèn đang cháy sáng. Hòa cùng với tiếng niệm Phật của đại chúng, chao ôi! lòng tôi cảm thấy có sự an lạc lạ thường. Tôi không có cách nào diễn tả cho các bạn hiểu được sự cảm nhận an lạc của tôi lúc đó. Ðúng như câu nói của người xưa rằng: “như nhơn ẩm thủy, lãnh noãn tự tri”. Nghĩa là, người tu hành giống như người uống nước, lạnh hay nóng chỉ có tự mình biết rõ mà thôi. Những lúc như vậy, tôi biết rằng, tôi rất được hạnh phúc. Bao nhiêu nỗi ưu phiền sầu muộn trong lòng tôi đều tan biến hết giống như mây khói.


Thú thật với các bạn, bây giờ tôi rất ghiền dự khóa tu. Tôi rất mong ngày tháng qua mau để tôi được tiếp tục dự tu. Nhiều khi, vì bận việc gia đình, nên tôi đã phải bỏ lỡ một hai khóa tu, tôi rất buồn tiếc! Tôi tham dự có mặt cùng với các bạn sen khác kể từ khóa tu đầu tiên, do quý thầy khai mở. Thú thật, tôi không còn nhớ rõ năm nào. Cho đến nay, trước sau gồm có 14 khóa. Mỗi năm, có ba khóa tu. Khóa nào, tôi cũng cố gắng sắp xếp việc nhà cho ổn định để tới dự tu. Và trong khi dự tu ở đạo tràng, tôi quyết không còn bận tâm lo nghĩ gì đến việc nhà. Vì mọi việc, tôi đã sắp xếp ổn định. Ðiều mà có lẽ suốt đời còn lại của tôi, tôi thật khó quên, đó là mối thâm tình bạn đạo. Có chứng kiến tận mắt, các bạn mới thấy được tinh thần tu học của các bạn sen chị em chúng tôi.


Ai cũng biết, nơi ăn chỗ nghỉ dành cho các tu sinh dự tu chúng tôi, thì rất là chật hẹp. Vì chùa không có đủ phương tiện, tiện nghi giúp cho chúng tôi được thoải mái.  Cho nên, mỗi lần dự khóa tu, phần lớn những người dự tu chánh thức bảy ngày, thì phải trải nệm trên nền nhà cement để tạm ngủ nghỉ. Một số người thì nằm trên sân khấu và hai bên hông của sân khấu, số người khác, thì lấy những tấm phong che chắn lại làm chỗ ngủ nghỉ và một số người thì ngủ trên gác. Ấy thế mà, chúng tôi cảm thấy rất vui vẻ. Chúng tôi chia sẻ cảm thông với nhau. Ăn chay nằm đất, vậy mà cảm thấy rất an lạc. Dù tuổi tác của chúng tôi lớn nhỏ có chênh lệch nhau, nhưng tấm lòng của chúng tôi thì chỉ có một. Tất cả như con một cha như người một nhà. Những lúc như vậy, tôi trực nhớ đến bài viết “Một Nhà Tịnh Ðộ” của thầy Phước Thái. Quả thật, chúng tôi là những người con cùng chung một nhà. Chúng tôi thương yêu tương kính nhau, rất là hòa ái. Mỗi lần hát bài mừng sinh nhật, thú thật, tôi không ngăn được nước mắt. Bài hát đó, thầy đã gởi gắm nhắc nhở chúng tôi phải thật tâm thương yêu nhau trong thâm tình bạn sen.



Tình bạn sen, tình rạt rào,
Tình bạn sen, luôn bên nhau,
Tình bạn sen, vui đón chào,
Tình bạn sen, luôn ngọt ngào.



Ðó là một điệp khúc được lặp đi lặp lại trong bài hát. Tôi thiết nghĩ, các bạn sen khác khi hát điệp khúc nầy, chắc hẳn cũng có những cảm niệm xúc động rơi lệ như tôi. Chính cái thâm tình đó, làm sao tôi có thể quên được những lúc sát cánh bên nhau tu học. Tôi tự thầm nhắc nhở mình phải luôn luôn giữ tình bạn sen đúng như những gì mà thầy đã trút hết tâm tư hoài vọng của thầy vào đó. Bài hát nầy có tác dụng thức nhắc chúng tôi rất lớn trong tình thương yêu hòa kính để cùng nhau quyết tâm xây dựng đạo tràng. Tôi cũng luôn tâm niệm là quyết không làm trái lại những gì mà quý thầy đã hằng mong mỏi kỳ vọng nơi chúng tôi.


Trở lại vấn đề dự tu nói trên, tôi quyết không viện cớ lý do không chánh đáng để không tham dự khóa tu. Vì như thế, sẽ tạo cho tôi thêm cái tội dối mình lười biếng. Ngoại trừ gặp phải những hoàn cảnh bất khả kháng không thể giải quyết được. Hoặc giả khi đau yếu bệnh hoạn, thì tôi mới vắng mặt mà thôi. Lạy Phật, cũng may mắn cho tôi, là tôi ít khi gặp phải những hoàn cảnh ngoài ý muốn đó. Âu đó cũng nhờ chư Phật gia hộ cho tôi có đủ phước duyên, nghị lực nên mới có thể vượt qua mọi khó khăn. Con kính lạy chư Phật, chư Bồ tát, nhất là Mẹ hiền Quán Âm đã gia hộ cho con có được những cơ hội tốt đó.


Có dự các khóa tu, tôi mới thấy mình trở nên một con người thay đổi khác xưa. Tôi cảm nhận có sự đổi mới ở nơi thân tâm của tôi. Tâm tôi bớt đi rất nhiều những phiền não tạp loạn toan tính, lo âu buồn bực, chán nản như trước kia. Nếu không có sự nhắc nhở thường xuyên của thầy bạn, thì đời tôi chắc là khổ sở lắm. Nhờ có tu học và nhất là thường xuyên niệm Phật, nên lòng tôi cảm thấy vơi đi những nỗi lo âu sầu muộn. Bây giờ lòng tôi cảm thấy có được những phút giây an lạc thanh thoát nhẹ nhàng hơn trước kia rất nhiều. Ðược thế, phần lớn cũng nhờ các thiện hữu tri thức giúp đỡ chỉ dạy. Ðó là một sự thật chớ không phải nói chuyện viễn vông mơ hồ. Cầu mong quý thầy luôn được mạnh khỏe, để hướng dẫn đạo tràng, hướng dẫn chỉ giáo cho chúng con tiếp tục tu học. Con xin ghi nhận công ơn lớn lao của quý thầy đã cho con có những phút giây thật sự an lạc, thoải mái. Con kính lạy Tam bảo hằng soi sáng cho con có thêm sáng suốt để tránh gây tạo những nghiệp ác lỗi lầm và như thế, thì đời con mới được an vui hạnh phúc trong hiện tại và mai sau.



Continue reading →

Một đạo tràng lý tưởng

0 nhận xét


Đạo tràng là nơi hội tụ của những người con Phật có cùng một ý hướng chuyên tu theo một pháp môn mà mình đã chọn. Hơn bao giờ hết, hiện chúng ta đang sống trong một thế giới đầy nhiễu nhương, biến loạn, hận thù, tranh chấp và tàn hại lẫn nhau. Thiên và nhơn tai họa hại xảy ra hàng ngày. Lòng người không bao giờ an ổn. Con người mãi chạy theo vật dục đánh mất định hướng lương tri. Đời sống càng ngày càng nổi trôi trong biển đời đầy hệ lụy đau thương. Muốn thoát ra khỏi nổi khổ đau của thế giới đảo điên biến loạn  nầy, chỉ có pháp môn niệm Phật mới có thể đảm bảo cứu thoát được con người.




Theo chiều hướng đó, việc kết hợp mọi người về một nơi để cùng nhau tu học, hành trì niệm Phật đó là điều vô cùng thiết yếu. Người xưa nói: “ăn cơm có canh, tu hành có bạn là ý nầy vậy”. Đạo tràng Quang Minh là nơi hội tụ của những người bạn sen có cùng chí hướng, lý tưởng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Muốn cho đạo tràng ngày càng phát triển vững mạnh hơn, thì mỗi người chúng ta là một viên gạch góp phần xây dựng. Đó là một ý hướng chung của đạo tràng. Tuy nhiên, muốn cho đạo tràng được thành tựu cao đẹp vững mạnh hơn nữa, thì chúng ta cần phải dựa vào những mô thức và những yếu tố nào để xây dựng? Đó là điều, mà chúng tôi thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên tìm hiểu qua, để từ đó, chúng ta cố gắng cùng nhau góp phần xây dựng cho mỗi cá nhân cũng như chung cho cả đạo tràng có nhiều tiến bộ khởi sắc hơn.




I. Thế nào là đạo tràng?

Continue reading →

TẤM LÒNG CỦA BIỂN

0 nhận xét

Tôi lấy tựa đề của bài viết này là tên của tuồng cải lương mà cô đào Thanh Nga đóng vai chánh. Tôi không phải là đứa say mê cải lương gì cho lắm, nhưng tôi thấy được cái lý của tác giả  Hà Triều, Hoa Phượng khi dùng “Tấm lòng của Biển” để chỉ cho sự nhẫn nhục và âm thầm hy  sinh của người mẹ đối với con mình. Tôi cũng xin mượn lời của Hòa Thượng Nhất Hạnh trong quyển “ Đường Xưa Mây Trắng” chương 67 mà thầy nói về biển,  để mình  được diễn đạt những cảm nghĩ về mẹ của mình. Biển là nơi dung nạp tất cả nước của các con sông như tấm lòng bao dung của mẹ sẳn dành cho con. Biển còn chứa đựng biết bao trân châu, ngọc báu nhưng đầy khiêm nhường, như kho tàng tình thương mẹ luôn dành cho con mà không phô trương hay đòi hỏi. Biển còn là nơi mà những sinh vật được sản sanh và được nuôi dưỡng trong chính môi trường của nó, nên biển cũng biết mơn man, vỗ về, ấp ủ trong lòng nó những sản vật này như một người mẹ sinh con ra, nuôi con lớn khôn, chăm sóc rồi bảo bọc cho con. Nước sông nào cũng chảy vào biển rồi cũng mang một vị mặn như tình yêu đậm đà của mẹ đối với con.


Bà ngoại tôi mượn ba tôi về làm gia sư cho cậu Bảy và má. Rồi một hôm bà cho vời nội tôi đến để câu tôm với bà. Nội tôi mừng rỡ vì ngoại là người giàu có nhứt vùng mà lại hạ thân mời nội là một góa phụ cô thế đến đánh bài. Sau ngày hôm đó ngoại tôi cho biết là bà muốn kết thông gia với nội. Ngoại thẳng thắng cho nội biết của hồi môn của má tôi là những gì. Ngoại là người khôn ngoan, buôn bán lớn lại tính toán rất hay nhưng thành thật, hôm ấy ngoại không ngần ngại mà bàn chuyện hôn nhân của ba má tôi với nội. Không phải má tôi xấu xí, hư đốn gì mà ngoại làm vậy nhưng vì tình thương ngoại đối với đứa con gái út bao la quá, nên ngoại dẹp tự ái để lo cho má tôi, một phần vì ngoại biết ba tôi học hành giỏi dang, phần khác là ngoại biết sức khỏe của mình  như ngọn đèn đến hồi tàn lụn. Ngoại sợ các anh lớn dành của và hành hà má nên ngoại lo sẵn mọi việc trước khi ngoại ra đi. Mỗi lần nhắc chuyện này má tôi khóc. Chúng tôi không biết má khóc vì nhớ thương ngoại hay vì thương thân mình. Nhiều khi mình tính một đường mà chuyện xẩy ra một nẻo. Tình thương ngoại tràn đầy như biển lớn  lo sợ cho đứa con gái út của mình phải khổ sở, nên ngoại phải tìm nơi định chốn cho cuộc đời của má tôi trước khi ngoại nhắm mắt lìa đời.


Năm má 18 tuổi ngoại ra đi, đến năm 21 má về làm dâu cho nhà nội, cho nguyên dòng họ của ba. Thôi thì chuyện làm dâu là việc mà muôn đời không bút mực nào tả cho xiết, kể cho hết những nỗi nhọc nhằn mà người phụ nữ Á Đông như má tôi phải chịu.


Bây giờ chắc nội,  ba, má cùng những người thân bên gia đình nội cũng đã biết được thế nào là oan gia là nghiệp báo. Tôi không muốn lật lại trang sử cuộc đời làm dâu của má vì những người này đã không còn trên cỏi đời ô trọc này nữa.


Má tôi chịu khó,  chịu khổ,  nhẫn nhục, nhường nhịn cả nguyên gia đình chồng. Hồi còn nhỏ khi thấy má khóc là chúng tôi cùng khóc theo má, nhưng khi lớn lên mỗi khi má khóc là cả đám chúng tôi đồng hát bài ca dao sửa lời như sau:



Lá mía cho đường cây mía ngọt,


Anh cho nàng tám đứa con anh.



Má cười khi nghe chúng tôi hát bài ca dao này. Ba tôi nghiêm khắc với má nhưng lại hết dạ thương con. Đám chúng tôi thấy má hầu ba cực khổ nên thề quyết không thèm lấy chồng ở vậy với má. Má chia đều tình thương cho chúng tôi, ai cũng có cảm giác là mình được má thương nhứt nhà.


Chị Hai hay nói: má thương tao nhứt vì tao là đứa con đầu lòng của má, là sản phẩm đầu tay, tao đẹp giống má.


Chị Ba tôi cải lại: bà nói sai rồi, em có miệng móm giống ngoại, em có nước da trắng của ngoại, nên má phải thương em nhứt nhà.


Chị Tư trầm tỉnh nói: em ít nói giống má, em khéo như má, em biết tằn tiện như má, em có khuôn mặt của ngoại, nên má thương em nhứt.


Ba bà chị thấy tôi ngồi im mà mặt méo sẹo, thì thương hại nên hỏi: Kim, nhà ngươi có đặc điểm gì để má thương, nói thử xem.


Tôi  nhìn mấy bà chị thì thấy đúng, quả thật chị Hai tôi có nét yêu kiều diễm lệ với dáng dấp của một vương phi, ba tôi thường nói nửa đùa nửa thật là chỉ gả chị cho hoàng tử Bảo Long mà thôi. Còn chị Ba tôi thì miệng hơi móm mà là loại móm duyên chị chụp hình rất ăn ảnh, tiệm chụp hình Đông Nam Á trên đường Thuận Kiều trước cửa bệnh  viện Chợ Rẫy đã phóng tấm hình của chị to nhứt, để chính giữa mọi người qua lại đều khen. Riêng chị Tư thì ngoài nước da trắng hồng cặp mắt lá răm trông ra cũng rất đẹp và chị  lại  là người khéo léo nhứt nhà. Nhìn đi nhìn lại tôi thấy mình không bằng ai hết, người thì ốm nhom, ốm nhách như con còng gió, mặt thì đen thui, đen thủi lấm tấm mụn của tuổi dậy thì.


Tôi cũng lấy hết can đảm cố hạ giọng đáp: còn em, em có khuôn mặt thon dài của má, đôi mắt sáng của ba, em nói nhiều giống ba, nên em nghĩ má thương em nhiều nhứt.


Ba bà chị cùng xì một cái: ngươi nói gì, ngươi giống ba mà má thương nhiều nhứt à.


Tôi gân cổ cải lại: chứ gì nữa, người ta cũng thương cái gì mà người ta không có, vã lại mấy chị đã ca bài:  Lá mía cho đường cây mía ngọt, Anh cho nàng tám đứa con anh đó sao.  Mà nếu má không thương ba thì nhận làm gì tới tám đứa con cho khổ ?


Chị Hai tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: Ừ tao thấy nó nói cũng có lý.


Má ngồi tủm tỉm cười khi nghe mấy chị em tôi dành nhau tình thương của má, rồi má nói: Đứa nào má cũng thương hết  nhưng má lo cho con Kim nhiều hơn vì nó yếu đuối nhứt nhà.


Ai cũng biết là tại sao má lo cho tôi, ba cho má tám đứa con mà má chỉ giữ được bảy đứa, má có anh Năm trước rồi đến  tôi nhưng chẳng may trong lúc ba đi kháng chiến chống Pháp ở miền xa,  má không kham nổi sự nhọc nhằn nên không giữ anh lại được. Điều này làm cho cả gia đình chồng đay nghiến và ba không vui. Khi lên chín tuổi, tôi đau một trận nhừ tử tương chao nằm viện hơn hai tháng trời,  má phải ở cùng trong viện để lo cho tôi, từ đó tới sau má cưng tôi hơn vì sợ mất tôi như má đã mất anh Năm. Vậy là tình thương của má bao la như biển cả và má là kho tàng châu báu của chị em tôi. Má đã sinh chúng tôi ra rồi nuôi dưỡng, rồi bảo bọc chúng tôi. Nếu biển đã trân quý những sản vật có trong lòng biển như thế nào thì má cũng trân quý chúng tôi như thế ấy.


Nhỏ Hà là con bạn học cùng lớp với tôi, mẹ nó mất sớm nên nó cũng thương má tôi lắm. Năm tôi học lớp Đệ Nhứt, nó chạy lại nhà tôi nói cho má biết là con Cẩm Hồng bạn thân của nó bị bệnh nặng và phải tạm thời nghỉ học để trị bệnh, nó buồn lắm vì ngoài tôi thì Cẩm Hồng là đứa mà nó có thể tâm sự được thì lại xa nó. Còn tôi thì khi lên năm Đệ Tam vì chia lớp nên cũng không được gần nó. Má khuyên nó đừng buồn cứ đến nhà chơi với tôi. Năm sau tôi ra trường thì Hà ở lại lớp, rồi học cùng Cẩm Hồng, sau đó thì tôi cũng không có dịp gặp lại Cẩm Hồng. Hà, Quỳnh Mai và tôi là những đứa to tiếng rộng họng nên thường được đọc lại những bài văn hay,  lập lại những bài chính tả trong lớp.  Sau này Hà làm cho Bộ Canh Nông và được chọn  làm xướng ngôn viên cho đài truyền hình Việt Nam trong chương trình Người Cày có Ruộng.


Mãi đến sau năm 1975, Hà chạy đến bảo tôi: mày xách xe đạp đi với tao lại nhà con  Cẩm Hồng có chuyện này hay lắm, tao cho mày biết sau.


Vậy là tôi và Hà lon con đạp chiếc xe đạp vừa đi Hà vừa kể chuyện về Cẩm Hồng cho tôi nghe.


Hà nói: Mầy còn nhớ năm Đệ Nhứt, Cẩm Hồng nói nó bệnh, rồi má nó xin phép nhà trường cho nó nghỉ một năm không? Sự thật thì nó lỡ dại thương ông thầy dạy kèm của nó mà có bầu. Má nó là Trình dược viên của hảng thuốc tây Roussel nên xin được cái giấy của ông bác sĩ quen để nhà trường cho nghỉ bệnh một năm, rồi đưa thẳng nó lên Đà Lạt mướn nhà mà ở. Mầy cũng biết rồi, má nó góa bụa nhưng rất giỏi. Bà độn bụng đi làm, để tránh tiếng cho con  Hồng. Bà nghĩ chẳng thà bà mang tiếng chửa hoang  còn hơn để Hồng bị người ta khinh bỉ. Sau khi  Cẩm Hồng sanh nở,  một tay bà lo giấy tờ nhìn nhận thằng con nó làm con ruột mà Hồng thì làm chị của con mình.  Bây giờ cách mạng vô, đổi đời rồi Hồng muốn nhận lại con mình, lên Phường khóm thì người ta bảo cần hai người chứng, tao là một, mày là hai. Thôi hai đứa mình lên Phường chứng minh dùm nó.


Tôi đến nhà má Hồng nằm trong ngỏ hẻm ngoằn ngoèo của vùng Tân Định.  Má Hồng chắc nhỏ hơn má tôi chừng năm bảy tuổi gì đó, người lịch duyệt, đon đả mời chúng tôi vào. Từ bếp đi lên một người con gái tuổi độ ba mươi ngoài, thoáng nhìn cũng phải gọi là giai nhân tuyệt sắc. Chị ngồi xuống chiếc bàn ăn cạnh tôi. Má Hồng giới thiệu là chị Hoàng Yến là chị hai của Hồng. Chị đến tủ lấy ra tập hình rồi trao cho tôi, đôi tay chị rồi cái miệng chị bỗng nhiên méo méo giựt giựt, thỉnh thoảng chị lại niểng niểng cái đầu, nét giai nhân thoáng hiện  đã biến mất và giờ thì nhường lại cho một người bệnh tật. Cứ khoảng năm phút thì lại thay đổi trạng thái người chị như vậy. Phải nói là Hà cũng đẹp vì nó một thời đã là xướng ngôn viên của đài truyền hình nhưng nếu chị Yến không bị những sự tàn phế đó thì chị đẹp hơn Hà nhiều. Tôi lần dỡ từng trang hình quả nhiên là một giai nhân thiên kiều bá mị. Chị Hai tôi cũng đẹp nhưng chưa bằng chị Yến này.


Hà nói:  hoa khôi Marie Curie đó mày. Chị là Tiếp Viên Hàng Không quốc tế chuyên đi tuyến đường bay ngoại quốc,  tiếng Anh, tiếng Pháp như gió.


Má Hồng tiếp: ngày xưa bao nhiêu người cầu cạnh, giờ thì ai mà thèm nữa. Rồi bà thở dài.


Sau khi thực hiện xong phần thủ tục làm nhân chứng, Hà và tôi lại lộc cộc đạp xe về. Trên đường thì lần này Hà kể tôi nghe chuyện chị Yến.


Chị Yến tài giỏi, đẹp kiêu sa mà tính tình cũng kiêu kỳ nữa, bao nhiêu người say mê. Dân trường Y mê chị như điếu đổ, chị làm cho bao trái tim rơi rụng và nhiều anh bỏ học đi lính vì chị. Chị đòi hỏi tình yêu tuyệt đối, người yêu phải tôn vinh chị như một nữ thần. Có một anh con nhà giàu học giỏi đẹp trai phải lòng chị, đến cầu cạnh chị, anh lại sắp sửa đi Nhựt để học lấy bằng kỷ sư. Má Hồng cũng thích lắm vì dễ gì mà tìm được người với đầy đủ điều kiện như thế. Chị Yến cũng yêu anh nhưng chị lại ra điều kiện chị là trên hết, nếu anh yêu chị thì anh phải ở lại Việt nam cùng chị mà không được đi đâu cả. Anh giải thích là vì tương lai của hai người anh phải đi, anh xin được đính hôn trước khi anh lên đường vì anh sợ mất chị. Chị dứt khoát là việc đính hôn chỉ xẩy ra khi nào anh bỏ ý định du học. Anh lên đường sang Nhựt với bao nhiêu lá thư gởi về chị vẫn không đổi ý. Hai năm sau anh trở về hỏi dứt khoát, chị vẫn khăng khăng giữ ý. Anh đoạn tuyệt về cưới người vợ khác đem qua Nhựt. Chị đau khổ, điên cuồng, có lần định tự tử. Má Hồng phải lo thuốc thang, biến ứng của thuốc làm chị trở thành  người tàn phế, nói lắp bắp không ra lời nên không làm được việc gì nữa.


Hà nói thêm: Má Hồng khổ lắm nhưng bà không dám than, mà than với ai đây? Con Hồng mấy bửa rày cũng say mê lý tưởng cách mạng lắm, con thì đòi lại nhưng đâu chịu bỏ ra một giờ nào để gần nó đâu. Tao không biết phải nói làm sao?


Tôi kể má nghe câu chuyện của má Hồng thì được má bảo:  đức hi sinh là nét đẹp muôn đời của người phụ nữ Á Đông mà không bao giờ phai nhạt.  Ngày nào đó con có con rồi thì con sẽ thấy, đôi khi mình sẽ làm hết mọi điều bất chấp cả miệng tiếng thế gian để  mong đổi lấy một chút hạnh phúc cho con mình. Má Hồng có đức hi sinh của một vị Bồ Tát. Bà đã biết bảo vệ lấy tính mạng và quyền sống Hồng cùng đứa con của nó, chứ như nghề nghiệp của bà thì bà dư sức diệt đi cái mầm sống kia mà không cần phải ngụy tạo những chuyện như vậy.


Rồi má nói luôn là chị Yến không yêu anh ấy mà chị yêu chị nhiều quá, chứ khi yêu là người ta phải hi sinh cho nhau, san sẽ những vui buồn và phải biết tha thứ cho nhau nữa. Sắc đẹp nào rồi cũng tàn phai chỉ có lòng chân thật, chịu khó và sự quan tâm chăm sóc của mình đối với người mình thương là tồn tại. Việc nào rồi cũng có nhân và quả của nó cả. Chị Yến đã trả một cái giá quá đắc cho việc chị làm vì không phải chỉ riêng anh bạn của chị mà còn cho tất cả những người con trai trước đó. Luật nhân quả không chừa bất cứ một ai.


Lúc nghe má so sánh mẹ Hồng như vị Bồ Tát, tôi mơ hồ như lời nói má hơi quá đáng nhưng tôi không dám cải lại. Mãi đến về sau khi cả hai thầy Phước Tấn và Phước Thái kể về câu chuyện Đức Bồ Tát Quán Âm có tại nhà thì tôi mới sáng lên được ý so sánh của má trong mấy mươi năm về trước.


Nước muôn sông đổ ra biển nhưng biển không bao giờ tràn. Lòng hi sinh, sự chịu đựng của má Hồng là do tình yêu vô bờ bến của mẹ đối với con như biển kia nhận nước nguồn do sông đổ ra mà không bao giờ chán. Chấp nhận hết tất cả những nhọc nhằn đau khổ vì con mà không hề than van, oán hận.


Mấy bà chị tôi cười phì khi nghe Hà đòi cho thằng Hùng đứa con thứ nhì của nó làm con nuôi của tôi mà chỉ là trên danh nghĩa thôi.


Chị Ba tôi nói: thân nó còn lo chưa xong mà đòi lo con người ta.


Vậy mà má nghiêm mặt nói:  “Kim nó phải là người thế nào thì Hà mới giao con cho nó , dù chỉ trên danh nghĩa mà thôi. Không ai dễ gì giao núm ruột mình cho người khác cho dù chỉ là một lời nói.” Như vậy thì cũng thấy má thương chúng tôi tới bực nào.


Anh Quang chồng Hà  đi học tập, có người anh họ bấm tử vi cho thằng Hùng thì nói  nó khó nuôi, chỉ có người cao tay mới mong giữ được nó. Không hiểu Hà nhìn ra tôi cao tay ở chỗ nào mà cứ  nằng nặc đòi giao con cho tôi. Tôi nhận lời vì má cho là một vinh dự hiếm có. Chúng tôi vẫn tiếp tục liên lạc và tôi có người con nuôi thật là dễ thương và thông minh. Hà nói nó lanh giống tôi, khốn khổ tôi đâu có dính líu gì đâu mà nó giống tôi.


Một hôm ngồi chơi, thằng Quân em út của Hà tất tả chạy đến báo: Chị Kim, thằng Hùng té lầu chết rồi. Chị Hà em đòi tự tử, chị làm ơn tới dùm. Tôi phóng Honda tới thì thấy Hà đang vật vã người khóc lóc đòi chết theo con.  Chúng tôi đưa Hà tới bệnh viện Chợ Rẩy để nhận xác Hùng về chôn cất. Thúy Liễu nha sĩ tại bệnh viện, cũng là một đứa bạn thân trong nhóm chúng tôi lo việc này, Thúy Liễu báo cho biết chiếu quang tuyến thì thấy là đầu nó nát như cái vỏ hột gà bị đập dập. Hà khóc cả tuần lễ, kể lể phải chi anh Quang đừng bị đi học tập, phải chi Hà ở nhà ngày hôm đó thì mọi việc đâu có xẩy ra như vầy.


Ba năm trước đó, khi tôi về Trường Mạc Đỉnh Chi tại chợ Phú lâm, dưới dốc cầu Ông Buông, tôi được cử làm chủ nhiệm cho lớp 10 C. Thằng Thanh Phong làm trưởng lớp, thằng Nhựt Tảo làm trưởng ban lao động. Thanh Phong, Nhựt Tảo và Kiệt là ba đứa gia đình liệt sĩ của lớp tôi. Thanh Phong vận động dữ dội để kỳ họp mặt phụ huynh lớp được sĩ số cao. Ba má chúng tâm sự với tôi là để bảng hiệu gia đình liệt sĩ cho yên chuyện. Nhưng mà nào ngờ chiến trường Kampuchia trở nên sôi động, nhà nước tuyển thêm lính đi vào Bộ đội. Ba Thanh Phong khôn ngoan vận động cho nó làm bảo vệ tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương nên nó khỏi đi nghĩa vụ. Nhựt Tảo thì mẹ nó lo dấu nó để trốn nhghĩa vụ. Duy chỉ có chị Hiền má thằng Kiệt là thật thà nên chị cho nó đi. Trường có khoảng mười đứa bị ra đi như vậy, nên tổ chức buổi tiễn đưa, nào kèn nào trống, nào diễn văn rồi diễn từ, đọc túa bụa. Ngày thường thì thằng Kiệt hơi chậm và hơi lười nhưng hôm đó nó trông tự tin và lanh lẹ ra.


Thế rồi một buổi chiều thằng Phong đến trường báo cho tôi hay là thằng Kiệt tử trận, cả tháng nay lận mà bây giờ má nó mới được tin. Má nó sẽ đến thăm mộ con trong tuần này.


Tuần kế tiếp chị Hiền sẽ đến thăm tôi và cả lớp kể về chuyện đi thăm mộ con.


Chị nói qua tiếng khóc: cô ơi, căn cứ nó rút lui về sát biên giới, tưởng đâu yên, mấy anh em nó xúm nhau đánh bài vì ngày mai thì sẽ trở về Saigon nghỉ phép. Vậy mà đùng một cái tụi Pôn Pốt nó pháo kích qua. Trái đầu rơi ngoài cửa sổ, mấy đứa kia nhanh chân chạy vọt ra ngoài được, thằng Kiệt hơi chậm, trái thứ hai nổ bùm nó chết. Hôm thứ Sáu tuần rồi tôi nấu mâm cơm với mấy món mà nó thích, rồi nhang đèn, rồi bánh trái, hoa quả đem lên. Cô biết không, đi cực khổ lắm, hai ba chặng xe, rồi lội bộ một quãng đường  xa trời nóng cháy da. Tôi tới nơi được người giữ nghĩa trang nhìn bản đồ rồi cho biết mộ nó nằm hướng Bắc, hàng dọc rồi hàng ngang gì đó, có số mà không có tên. Cô biết không tôi đương cúng vái thì ông gát cỗng khều vai tôi rồi bảo: “Sai rồi không phải hướng Bắc mà là hướng Tây, mà cũng không phải là số này nữa.” Tôi lục cục thâu hồi đồ ăn thức uống đi theo ổng, tôi đương khóc mùi cũng phải bật cười. Vậy là tự nãy giờ tôi cúng cho ai đâu chớ đâu phải cho thằng Kiệt, con tôi.


Tôi thấy chị Hiền cười mà những giọt nước mắt còn đọng trên má.  Tôi đưa chị Hiền ra cổng.  Chị nói nhỏ với tôi: chết toàn là 17, 18 tuổi không hà cô ơi.


Có bao nhiêu bà mẹ đã khóc con như chị Hiền? Tôi không biết mình phải trả lời như thế nào cho câu hỏi này.


Nước biển chỉ thuần một vị mặn mà thôi, vậy có phải đó là vị những giọt nước mắt của các bà mẹ đã khóc con, như má khóc cho anh Năm, Hà khóc cho thằng Hùng, chị Hiền khóc cho thằng Kiệt, rồi còn ai và còn ai nữa trên cõi đời này mà các bà mẹ đã khóc cho.


Để thay cho đoạn kết bài này tôi xin mượn lời của Đức Phật nói với bà mẹ mất con trong câu chuyện Những Hạt Cải Mù Tạt  “ The Parable of the Mustard Seeds” là  “Sự chết là một định luật tự nhiên của trời đất mà không ai tránh khỏi.”  . Đây là một chuyện giản dị  trong tập truyện cổ Phật giáo nhưng hàm chứa một triết lý sâu xa của cuộc sống.


Thương tặng chị Hai còn ở Việt Nam,
chị Ba phiêu diêu ở chốn phương trời nào đó,
chị Tư và các em Danh, Vân,
Thủy ở Sydney để tưởng nhớ những ngày còn sống bên má.



Continue reading →