Showing posts with label Đạo và đời. Show all posts
Showing posts with label Đạo và đời. Show all posts
Saturday, January 7, 2012

Tội hay phước cũng từ tâm ta mà có

0 nhận xét

Trời Melbourne tuy sắp cuối đông, nhưng sáng sớm hôm nay, khí trời vẫn còn khá lạnh. Nền trời u ám bao phủ bởi những đám mây màu xám. Từng cơn gió nhẹ thoảng qua, gây cho tôi một cảm giác lành lạnh.  


Tôi được Thầy Phước Thái mời tham dự chuyến viếng thăm và uỷ lạo cho các nữ phạm nhân Việt ở trại DAME PHYLLIS FROST CENTRE, gọi tắt là trại DPFC.  Trại nằm về phía tây cách thành phố Melbourne, khoảng 15 cây số và thuộc thị xã Laverton.


Mục đích chính của chuyến viếng thăm này, là làm lễ Vu Lan và an ủi cho những phạm nhân người Việt. Những người đã không có được cái cơ may như chúng ta để họ có thể hít thở, sinh hoạt hưởng cái không khí tự do như ở bên ngoài. Tuy họ cũng có cái không gian, nhưng đó chỉ là cái không gian khép kín.


Thật lòng mà nói, khi đựợc Thầy mời tham gia vào đoàn để đi thăm viếng, tôi cũng đã phải đắn đo suy tư rất nhiều. Nói thế, chắc bạn sẽ cho rằng, tôi là người sao quá kỹ lưỡng cân nhắc lo xa, hoặc là không thích làm những công việc thiện nguyện như thế này chăng! Xin thưa ngay là không phải thế đâu. Vì khi nghe nói đến hai chữ trại tù, thì tôi liên tưởng ngay đến những gì mà tôi đã trải nghiệm. Nghĩa là nó đã khơi động những bi thương hãi hùng sống dậy trong ký ức của tôi. Đó là những hình ảnh thật quá kinh sợ khủng khiếp, mà chính bản thân tôi đã từng nếm mùi cay đắng sau biến cố đau thương 1975. Những gì mà tôi đã từng trải nghiệm như là: buồn, hận, đau đớn, vất vả… vì những cơn đói khát hành hạ triền miên. Rồi đến những nỗi lo lắng ưu tư cho số phận tương lai của mình không biết ngày mai sẽ ra sao! Nhất là trong nỗi niềm cô đơn trống vắng, bơ vơ xa lạ, không người thân, tới lui thăm viếng. Có thể nói, những nỗi thống khổ của một tù nhân hứng chịu thật nhiều cảnh khổ sở đoạn trường. Chúng tôi thiết nghĩ, thật không có bút mực nào mà có thể diễn tả cho hết được! Nhưng rồi, cũng chính những điều đó, đã là nguyên động lực thúc đẩy tôi phải quyết định để cùng tham gia với đoàn trong chuyến viếng thăm tù nhân lần nầy. Vì tôi đã cảm thông cho tình cảnh đau khổ của họ. Bởi họ cũng đã và đang trải nghiệm những nỗi khốn khó cùng cực giống như tôi ngày nào. Có khác chăng là với chế độ và cách hành xử tù nhân ở một xứ tự do có phần nào nhân đạo khá hơn mà thôi.


Ðoàn thăm viếng được tổ chức bởi chùa Quang Minh nói chung, và đạo tràng Quang Minh nói riêng. Người hướng dẫn và điều hợp đoàn là Ðại Ðức Thích Phước Thái. Ngoài ra, còn có các liên hữu tùy tùng khác trong Ðạo Tràng Quang Minh như các vị: Tâm Hải, Lệ Tâm, Viên Nguyện, Chơn Trì, Tâm Sở, Hà Ngọc, Huệ Tịnh, Tony Lê-Nguyễn, Mỹ Phương, Minh Nguyện, Thiện Hồng, Tâm Hoàng và Trí Bảo.


Tôi đến chùa Quang Minh vào lúc 9 giờ sáng. Tôi cứ ngỡ là mình đã đến sớm hơn mọi người, nhưng thật ra chính tôi lại là người đến sau cùng.  Mọi người đã đến chùa từ sáng sớm. Những món thực phẩm đem vào trong trại tù DPFC đã được họ nấu xong và đã bỏ vào các khay các đĩa sẵn sàng. Hai liên hữu Tâm Sở và Tâm Hải lãnh trách nhiệm nặng nề nhất trong đoàn. Họ đã chuẩn bị sắp đặt mọi thứ thức ăn thật chu đáo khéo léo. Những thức ăn cũng khá nhiều vì phải chuẩn bị cho trên 60 phần ăn. Ngoài những thực phẩm chính ra, các vị đó còn mang theo nhiều trái cây nữa. Vì thế, khi đến chùa, tôi không phải làm gì hết và coi như đã bị thất nghiệp!  Ngay cả các bản kinh tụng cho đại lễ, rồi nào là bông hồng cài áo, các băng đĩa ca nhạc Karaoke v.v… tất cả mọi thứ cũng đã được chuẩn bị xong từ các tuần lễ trước. Có thể nói, họ đã chuẩn bị tất cả mọi việc thật là hoàn hảo chu đáo!


Chúng tôi đã rời khỏi chùa Quang Minh vào lúc 9 giờ 30 phút sáng. Bấy giờ, ngoài trời những cơn mưa rơi nhẹ hạt bay lất phất theo gió. Ngồi trong xe, tôi cảm nghe hơi lành lạnh. Nhưng lúc nầy, lòng tôi thì cảm thấy thật vô cùng ấm áp. Vì tôi được duyên lành theo Thầy và các bạn sen trong Ðạo tràng Quang Minh thực hành hạnh bố thí. Ngoài việc chia sẻ phần vật chất ra, điều quan trọng đáng nói ở đây là, chúng tôi còn chia sẻ với nhau bằng tất cả trái tim thương yêu của những con người trong tình nghĩa đồng hương. Mất khoảng hai mươi phút lái xe thì đoàn của chúng tôi đã đến tịnh thất của Thầy Thích Phước Thái.  Chúng tôi vào tịnh thất lễ Phật xong, mọi người ngồi xuống để lắng nghe Thầy khuyên bảo thức nhắc dặn dò lần cuối.


Sau đó, chúng tôi tiếp tục khởi hành, khoảng 10 giờ 30 sáng thì chúng tôi đã đến trại DPFC. Đến nơi, chúng tôi phải mất độ mười phút để chuyển vận thức ăn và mọi thứ vào cổng trại.  Thủ tục kiểm hành lý và khám xét bên trong mất khoảng hơn hai mươi phút.  Khi thủ tục hoàn tất thì chúng tôi đã được anh Hoàng một nhân viên người Việt hướng dẫn chúng tôi vào phòng tiếp tân. Được biết anh Hoàng là người phụ trách công việc giúp cho những tù nhân ở đây. Lúc này, tôi xem đồng hồ tay thì thấy còn mấy phút nữa là đúng 11 giờ.


Từ lúc cái cổng sắt nơi phòng kiểm soát đóng sầm lại sau lưng và trên đoạn đường ngắn đến phòng tiếp tân, tôi có dịp quan sát thấy một số dãy nhà gạch mà tôi nghĩ là nơi giam cầm và chỗ ngủ nghỉ của các phạm nhân. Nhìn bên ngoài, nó cũng có hình thể dáng dấp tương tự như những dãy nhà tù cải tạo mà xưa kia tôi đã từng trải qua.  Mặc dù tôi không thấy đựợc ở bên trong như thế nào, nhưng tôi đoán chắc là nó sẽ có đầy đủ các thứ tiện nghi hơn những trại tù cải tạo ở Việt Nam gấp trăm ngàn lần.


Lúc này, các nữ phạm nhân đã đến phòng tiếp tân khá đầy đủ, khoảng gần bốn mươi vị. Trong số đó có hai vị đã đẩy 2 chiếc xe nhỏ và trong đó có hai đứa cháu nhỏ ngồi. Hai đứa bé thơ ngây thật là vô tội đáng thương. Hình ảnh này đã làm cho chúng tôi thật vô cùng xúc động. Xúc động là vì tôi cảm thương cho hai đứa cháu nhỏ dại khờ nầy. Thử hỏi chúng nó có tội tình gì mà phải vào đây để đồng lao cộng khổ chịu chung số phận ngục tù với mẹ của chúng nó chớ?! Hay đây là một cọng nghiệp chăng? Theo cái nhìn qua lăng kính nhân quả của Phật giáo, thì quả đây là một cọng nghiệp.


Sau khi mọi người đứng vào hàng ngũ nghiêm trang tề chỉnh ở trong ngôi nhà nguyện, anh Hoàng thay mặt cho nhân viên quản lý trại giam và các phạm nhân, đã ngỏ lời cám ơn Ðại Ðức Thích Phước Thái, anh Tony Lê Nguyễn và các bạn sen trong Ðạo tràng Quang Minh. Tất cả vì lòng từ bi, lân mẫn đến đây để làm Lễ Vu Lan và tạo duyên lành cho các phạm nhân được dịp tụng kinh sám hối.  Ngoài ra còn an ủi, thăm hỏi, khuyến khích và tạo niềm tin cho những con người đang trả quả và đang bị mặc cảm về những hành vi tội lỗi của mình trong quá khứ.  Sau đó là một nữ phạm nhân đại diện cho cả nhóm lên cám ơn và cảm tạ tấm chân tình của đoàn thăm viếng.  Cũng xin nhắc thêm, anh Tony chính là người đại diện cho chùa Quang Minh để bàn thảo và xếp đặt chương trình cho buổi viếng thăm này. Nếu như không có anh thì có lẽ buổi Lễ Vu Lan hôm nay thật khó mà có thể thực hiện được. Vì vậy, phải nói anh là người rất có công trong việc nầy.


Trong phần mở đầu của buổi lễ Vu Lan, cô Lệ Tâm thay mặt đạo tràng đã đọc một bài cảm niệm về ý nghĩa của ngày Đại Lễ Vu Lan báo hiếu. Với mục đích là nhằm gởi đến cũng như nhắc nhở về những công ơn sanh thành giáo dưỡng lớn lao của cha mẹ. Sau đó là vài lời nói về ý nghĩa cài hoa hồng của Thầy Phước Thái. Tôi thấy có những vị đã không ngăn được nỗi lòng xúc động rơi lệ.  Có người lại gục đầu thấp xuống như để che giấu những giọt lệ trào tuôn của chính mình. Ngoài kia là cả một bầu trời mênh mông trải rộng, và cơn mưa phùng của những ngày cuối đông như đã tạnh. Thế nhưng, ở bên trong của ngôi nhà nguyện tiếp tân nhỏ bé này, lại có những giọt mưa hối hận, buồn tuổi, nhớ thương … nặng trĩu đang rơi xuống ướt đẩm trên nền nhà. Lễ cài hoa hồng đã diễn ra một cách rất trang trọng trước khi thời khóa lễ Vu Lan bắt đầu. Buổi lễ nầy do Đại Đức Thích Phước Thái làm chủ lễ. Mọi người đều chí thành đọc tụng Bài Sám Vu Lan trong âm thanh đầy truyền cảm và xúc động. trước đó vài phút là cả năm sáu mươi cái tâm riêng biệt, nhưng trong lúc này đây trong hội trường chỉ còn có một cái tâm thành kính quy hướng về cội nguồn mà thôi.


Sau buổi lễ là đến giờ dùng cơm trưa. Tất cả những thức ăn mang theo đều được dọn sẵn ở trên bàn để bên ngoài sân.  Không phân biệt người trong trại hay ngoài trại, chúng tôi đều xếp hàng tự lấy phần ăn cho mình.  Tôi thấy mọi người trong trại đều vui vẻ hơn thêm và những mặc cảm ngại ngùng ban đầu lúc đoàn chúng tôi mới vào, giờ đây như đã tan biến và thay vào đó bằng những nụ cười rạng rở niềm nở thân thương.


Sau buổi cơm trưa chứa chan đầy tình nghĩa thương cảm, mọi người đều tập trung vào trong ngôi nhà nguyện và đều ngồi xuống cung thỉnh Ðại Ðức Thích Phước Thái ban cho mọi người một thời pháp thoại ngắn. Chủ đề của bài pháp thoại hôm nay là thầy nói về phương pháp sám hối tội lỗi tuyệt vời của đạo Phật. Thầy trình bày rõ về nguyên nhân của sự tạo nghiệp thọ khổ. Trong ba nghiệp: “thân, ngữ, ý”, thì ý nghiệp là đầu mối thúc đẩy thân và miệng tạo nên nghiệp thiện ác. Chính ba nghiệp nầy cấu kết chặt chẽ với nhau để tạo thành thiện nghiệp hoặc ác nghiệp. Trong phần nói về tạo ác nghiệp và phương pháp sám hối tội lỗi, thầy có dẫn chứng một câu chuyện rất lý thú và thực tế. Đại khái, tôi chỉ còn nhớ loáng thoáng một thí dụ mà Thầy đã nói cho mọi người nghe, đó là mặc cảm tội lỗi rất nặng nề của một người lính Mỹ. Người lính Mỹ nầy cũng chỉ vì hận thù bị vô minh sai sử, nên anh ta đã hành động một cách gian ác tàn nhẫn là bỏ chất thuốc nổ vào trong những cái bánh sandwich làm chết cả năm em bé vô tội.


Hình ảnh của các em này trong lúc giãy chết đã ám ảnh anh ta suốt cả ba mươi năm trời. Lúc thức cũng như lúc ngủ, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ, nói chung không một lúc nào mà anh ta cảm thấy thảnh thơi an tâm.  Mặc dù anh ta đã chạy chửa khắp nơi, nhưng  không có một phương thuốc hay một vị thầy nào có thể chửa lành tâm bệnh cho anh ta. Thậm chí, ngay cả chính cái tôn giáo mà anh ta đang tôn thờ cũng không giúp được gì cho anh.  Quả đúng là nhân quả nghiệp báo, ngậm máu phun người, miệng của ta đã bị dơ trước rồi.  Sau đó, anh nghe mọi người nói về thiền sư Nhất Hạnh, anh đã tìm đến và rồi tham dự một khóa tu do Hòa Thượng tổ chức. Chính nhờ tham dự khóa tu nầy mà anh ta đã được Hòa Thượng tháo gỡ cái khối nội kết mà anh đã chôn sâu kín trong tận đáy lòng từ bấy lâu nay. Nghĩa là những nỗi ám ảnh đầy mặc cảm tội lỗi sẽ không còn đeo theo anh nữa.  Phương pháp mà Hòa Thượng đưa ra cho anh ta là, năm đứa bé chết oan kia không thể nào đền bồi đựơc, chỉ có một phương cách duy nhất là anh nên phát nguyện cứu giúp cho những đứa trẻ bất hạnh khác.  Những đứa trẻ sắp sửa mất mạng hoặc mang tật bệnh, đói khát, nghèo khổ v.v… Nếu anh cứu sống được mười, hai mươi hoặc năm mươi đứa trẻ đang bị đau khổ như thế v.v… thì thiện nghiệp của anh nếu đem so với cái ác nghiệp mà anh đã gây tạo sát hại 5 đứa bé kia, tất nhiên, là anh vẫn còn có lời hơn chớ không có lỗ lã chi cả.  Anh đã nghe lời Hòa Thượng Nhất Hạnh chỉ dạy và đã làm đúng theo phương cách đó. Từ đó, những mặc cảm tội lỗi của anh ta không còn. Chẳng những thế, mà anh ta lại cảm thấy thiết tha yêu đời hơn. Anh đã khéo biết cải hối tội lỗi và đã tận lực làm mới lại cuộc đời. Đó là cách sám hối chuyển đổi từ tâm gây ra của anh.


Tội hay phước cũng từ tâm ta mà có. Tội tùng tâm khởi cũng phải từ tâm mà sám. Nhờ khéo biết ứng dụng bằng phương pháp sám hối đó, nên anh ta trở nên một con người rất hiền lương và làm nhiều điều phúc tiện lợi ích thực tế cho đời. Những mặc cảm tội lỗi trước kia đã thực sự xóa tan trong tâm trí anh. Giống như chúng ta tẩy xóa những gì lưu trử trong máy điện toán. Chỉ cần biết cách tẩy xóa, tất nhiên là những hình ảnh kia sẽ không còn. Với câu chuyện nầy thật là hàm súc một ý nghĩa vô cùng thâm thúy. Thầy mong sao nếu như chúng ta đã lỡ gây ra tỗi lỗi, thì cũng không nên ôm ấp mãi những hối hận mặc cảm tự ty tội lỗi trong lòng. Mà phải thật lòng chuyển hóa nó. Bởi nghiệp quả không có cố định, nếu như ta quyết tâm cải hối làm lành thì đều có thể chuyển được. Chúng ta nhứt định phải làm mới lại cuộc đời giống như người lính Mỹ kia đã làm. Và điều quan trọng ở đây, chính là Ðạo Phật có khả năng và diệu dụng giúp con người hóa giải và cải tiến trong bất cứ hoàn cảnh nào.  Phần cuối của bài thuyết pháp là phần Thầy đã trả lời các câu hỏi cho các vị trong trại DPFC.  Mọi người trong trại rất cảm kích về bài thuyết pháp sâu sắc và cám ơn sự giải đáp của Thầy.  Có vị đã yêu cầu Thầy đọc lại bài thơ “TIỀN”. Bài thơ này làm mọi người hứng thú và vui vẻ thêm, có nhiều vị đã xin Thầy cho phép để được chép lại bài thơ.


Sau đó, là phần văn nghệ bỏ túi giúp vui. Các ca sĩ bất đắc dĩ nghiệp dư có tên mà không có tuổi.  Chẳng hạn như ca sĩ Hoàng, anh đã mở đầu chương trình với bản nhạc “Bông Hồng Cài Áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Với giọng trầm ấm truyền cảm anh đã vận dụng  hết tâm cảm của mình để diễn đạt qua từng lời từng câu của bài hát. Quả thật, anh Hoàng đã làm cho cả hội trường phải nuốt lệ nghẹn ngào, vì chính anh cũng đã phải xúc động nghẹn ngào ngập ngừng đôi lần. Sau đó là các ca sĩ thuộc trại DPFC mở đầu với bản vọng cổ do chính Thầy Thích Phước Thái sáng tác. Bản vọng cổ nầy mang đầy ý nghĩa đậm đà tình tự quê hương. Bài ca đã làm cho mọi người vừa xúc cảm lại cũng vừa vui tươi.  Chương trình ca nhạc Karaoke tự biên tự diễn kéo dài đươc một tiếng thì đành phải kết thúc vì thời gian thăm viếng đã hết.


Một lần nữa, anh Hoàng đại diện cho trại DPFC ngỏ lời cám ơn Ðại Ðức Thích Phước Thái, anh Tony và các thành viên trong đoàn, rồi lại có thêm hai vị nữ đại diện cho các trại viên ngỏ lời cám ơn thật tha thiết.  Cuộc vui nào rồi cũng phải kết thúc, giờ phút chia tay cũng bịn rịn và lưu luyến, mọi người trong trại đều yêu cầu Thầy và các vị trong Ðạo Tràng Quang Minh hứa là sẽ đến thăm và tổ chức Ðại Lễ Vu Lan cho mọi người vào năm tới.  Có vị đã tiễn đoàn chúng tôi đến gần ngay cổng sắt của trại rồi mới chịu chia tay!


Ðoàn chúng tôi trở về chùa lúc 3 giờ chiều, mọi người trong đoàn cũng vội vả chia tay nhau về nhà để chuẩn bị cho một tuần lễ làm việc mới.  Một ngày trôi qua thật nhanh, cảnh vô thường hiện rõ, lúc ở nhà, rồi lại đến chùa, rồi là đến trại và rồi lại về chùa.  Bao nhiêu cảm xúc vui buồn lẫn lộn tiếp nối nhau luôn làm tâm ta không lúc nào dừng được.


Làm tôi chợt nhớ đến bốn câu thơ của Thầy Thích Phước Thái trong bài thơ ‘Nhớ Phật’ được đăng trong tập thơ “Hướng Dương Thi Tập” do Thầy sáng tác và chùa Quang Minh ấn hành. Tôi xin mượn bốn câu thơ này để tạm kết thúc bài ký sự này:



Cảnh đời là vô thường

Ta sống vạn tình thương

Ðêm ngày luôn nhớ Phật

Lòng ta thật an tường.



Continue reading →

Chuyện gì đang xảy ra với hệ thống thức phẩm của chúng ta

0 nhận xét











Xin chào! Tên tôi là Birke Baehr, Tôi 11 tuổi. Tôi đến đây ngày hôm nay để nói về những vấn đề hiện tại đối với hệ thống thức ăn của chúng ta. Đầu tiên, tôi muốn nói rằng tôi thực sự rất ngạc nhiên với việc thật là dễ dàng làm sao khi trẻ em bị làm cho tin tất cả những chương trình quảng cáo và truyền bá sản phẩm trên ti vi, ở các trường học và ở bất kỳ đâu mà bạn thấy. Đối với tôi điều này giống như là tất cả các công ty luôn cố gắng dùng những đứa trẻ như tôi để ép buộc các bậc cha mẹ phải mua những thứ mà không thực sự tốt cho chúng ta hay trái đất. Đặc biệt là trẻ nhỏ thường bị cuốn hút bởi những thứ đóng gói màu sắc sặc sỡ và đồ chơi nhựa. Tôi cũng phải thừa nhận rằng, tôi đã từng là một trong số đó. Tôi cũng đã từng cho rằng tất cả các loại thực phẩm chúng ta sử dụng đều đến từ những nông trang nhỏ, yên bình nơi mà những chú lợn lăn trong bùn và bò gặm cỏ cả ngày.


Nhưng cái mà tôi phát hiện ra thì không đúng như vậy. Tôi bắt đầu tìm hiểu về vấn đề này trên Internet, trong sách vở và trong các bộ phim tài liệu, trong những chuyến du lịch cùng gia đình. Tôi đã phát hiện ra mặt tối của hệ thống thực phẩm công nghiệp hóa. Đầu tiên là những hạt giống và tế bào sinh học được biến đổi gien. Đó là những loại hạt giống được tạo ra trong phòng thí nghiệm để tạo ra những thứ mà không thể hình thành ngoài tự nhiên - chẳng hạn như việc lấy DNA của cá và cấy ghép vào trong DNA của cà chua - khủng khiếp. Đừng hiểu sai ý tôi, tôi cũng thích cà và cà chua, nhưng như thế này thì thật là ghê sợ. (Cười) Những hạt giống này sau đó sẽ được gieo trồng, và phát triển. Loại thực phẩm tạo ra từ nguồn giống này đã được chứng minh là gây ra bệnh ung thư và những vấn đề khác trên cơ thể các động vật thí nghiệm. Và con người chúng ta thì đã bắt đầu tiêu dùng những thực phẩm chế tạo theo cách này từ những năm 1990 Và công chúng thì hầu hết không cả biết đến sự tồn tại của việc này. Liệu bạn có biết rằng những con chuột ăn ngô đã bị biến đổi gien đã có dấu hiệu nhiễm độc tố trong gan và thận? Bao gồm viêm và tổn thương thận và tăng trọng lượng thận. Và hầu hết tất cả các loại ngô chúng ta ăn thì đều bị biến đổi gien theo cách nào đó. Và hãy để tôi nói cho các bạn biết, ngô có trong mọi thứ. Và đừng bắt tôi phải nói về chế độ chăn nuôi những loại gia súc, gia cầm. cái gọi là CAFOS.


Những người nông dân hiện nay đều sử dụng phân bón hóa học làm từ nguyên liệu hóa thạch thứ mà họ trộn cùng với đất để kích thích cây trồng phát triển. Họ làm như vậy bởi vì họ đã vắt cạn tất cả những chất dinh dưỡng của đất khi gieo trồng cùng một mùa vụ hết kỳ này qua kỳ khác. Còn nữa, cũng có nhiều loại hóa chất độc hại hơn được phun lên rau quả, như các loại thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ, để tiêu diệt cỏ dại và sâu bệnh. Khi trời mưa, những loại hóa chất này thấm vào trong đất, hoặc chảy vào các mạch nước dùng của chúng ta, làm ô nhiễm nguồn nước. Rồi họ còn chiếu bức xạ thức phẩm với nỗ lực làm nó tươi lâu hơn, để có thể vận chuyển đi xa hàng ngàn mile từ nơi nuôi trồng tới các siêu thị.


Vậy tôi tự hỏi, làm thế nào tôi có thể thay đổi những điều này? Và đây là những gì tôi tìm ra. Tôi đã phát hiện ra có cách để làm mọi thứ tốt hơn. Giờ tôi trở lại trước kia một chút, Tôi đã từng muốn trở thành một cầu thủ bóng đá NFL. Nhưng giờ thay vì thế, tôi muốn trở thành một người nông dân hữu cơ. (Vỗ tay) Cảm ơn Và với cách đó tôi đã có thể có một ảnh hưởng rộng lớn hơn tới thế giới. Người đàn ông này, Joel Salatin, họ gọi anh ta là một kẻ mất trí vì anh ta nuôi trống khác với hệ thống hiện tại. Và vì tôi không tới trường mà tự học ở nhà, nên một ngày tôi tìm đến nghe câu chuyện của anh. Người đàn ông này, người nông dân bị mất trí này, không sử dụng bất kỳ loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ hay bất kỳ loại hạt giống biến đổi gien nào. Và chính bởi vậy, anh ta mới bị cho là điên.


Tôi muốn mọi người biết rằng tất cả chúng ta đều có thể tạo nên điều khác biệt bằng việc chọn các sự chọn lựa khác, bằng việc mua thực phẩm trực tiếp từ các người nông dân tại địa phương, hoặc những nông dân khu vực lân cận mà chúng ta đã biết từ lâu. Có người nói rằng các loại thực phẩm hữu cơ hay thực phẩm tại chỗ thường đắt hơn, liệu thực sự có phải vậy? Với tất cả những gì tôi vừa học được về hệ thống thực phẩm, điều đó với tôi có nghĩa là vậy thì chúng ta muốn trả cho những người nông dân, hay thanh toán chi phí bệnh viện. (Vỗ tay) Và giờ đây tôi biết rõ cái gì mà tôi sẽ chọn. Tôi muốn các bạn biết rằng ở ngoài kia có những trang trại - như Bill Keener ở trang trại Sequachie Cove ở Tennessee - nơi mà bò ăn cỏ và lợn lăn trong bùn, chính xác như những gì tôi đã nghĩ. Thỉnh thoảng tôi có đi làm tình nguyện tại trang trại của Bill để tôi có thể tự mình tìm hiểu cặn kẽ và chi tiết về nơi là nguồn cung cấp thịt cho tôi hàng ngày. Tôi cũng muốn mọi người biết rằng tôi tin trẻ em sẽ ăn các loại rau sạch và thực phẩm chất lượng nếu như chúng được tìm hiểu nhiều hơn về thức ăn cũng như xuất xứ của các loại thực phẩm đó. Tôi muốn các bạn biết rằng có những nơi họp chợ của nông dân ở khắp các cộng đồng, đang hình thành. Tôi muốn các bạn biết rằng tôi, anh trai và chị gái thực sự rất thích ăn các loại snack rau cải nướng. Tôi đang cố gắng để chia sẻ điều này ở khắp các nơi tôi đến.


Không lâu trước kia, bác tôi đã bảo rằng khi ông đưa cho cậu em 6 tuổi 1 loại ngũ cốc. Ông hỏi nó thích loại Toasted O's hữu cơ hay loại ngũ cốc bọc đường - loại mà có một hình nhân vật hoạt hình ở mặt trước. Cậu e tôi nói với cha nó rằng cậu ta muốn loại ngũ cốc Toasted O's hữu cơ, bới vì, Birke đã nói, không nên ăn các loại ngũ cốc lấp lánh. Và đó là cách mà chúng ta có thể tạo nên điều khác biệt mỗi lần một đứa trẻ.


Bởi vậy lần sau khi bạn ở các cửa hàng tạp thẩm, hãy nghĩ về các sản phẩm địa phương, chọn các sản phẩm hữu cơ, tìm hiểu về nông dân địa phương bạn bạn sẽ biết về các loại thực phẩm của mình. Cảm ơn.



Continue reading →

Tại sao tôi là người ăn chay trong tuần

0 nhận xét











Khoảng 1 năm trước, Tôi tự hỏi bản thân mình: "Hiểu biết những gì mà tôi biết, tại sao tôi không ăn chay?" Sau cùng, tôi cũng là 1 người thân thiện với môi trường. Tôi sống với cha mẹ lập dị trong 1 cabin gỗ. Tôi mở 1 website gọi là Treehugger Tôi quan tâm đến điều này. Tôi biết dù chỉ ăn 1 cái hamburger 1 ngày có thể tăng nguy cơ tử vong đến 1/3 Một cách ác độc hơn, tôi biết 10 triệu con thú ta nuôi để làm thịt mỗi năm được chăm sóc trong các điều kiện trang trại mà chúng ta sẽ không bao giờ nghĩ tới là nó có thể dành cho chó mèo và vật nuôi. Về phương diện môi trường, ngạc nhiên là thịt tạo ra nhiều khí thải hơn là tất cả những phương tiện giao thông cộng lại gồm xe hơi, xe lửa, máy bay, bus, thuyền, tất cả. Và sản xuất thịt bò dùng lượng nước hơn 100 lần mà rau củ cần.


Và tôi biết là tôi không đơn độc. Chúng ta, một xã hội đang ăn thịt nhiều gấp đôi số mà ta đã ăn những năm 50. Vậy nên những thứ từng là đặc biệt, không nhiều bây giờ lại là thứ chính, thường xuyên hơn. Vậy nên những khía cạnh kể trên là đủ để bạn thành người ăn chạy. Tuy nhiên, tôi đã, chk, chk, chk... làm 1 miếng thịt nướng.


Vậy tại sao tôi phải trì hoãn chứ? Tôi nhận thấy rằng tôi ăn rất ngon miệng có 2 phương án hoặc là tôi là người ăn thịt, hoặc người ăn chay Và tôi nghĩ tôi chưa sẵn sàng khi nghĩ đến cái hamburger cuối cùng. (Cười) Vì thế ý thức chung của tôi ý định tốt đẹp của tôi, lại mâu thuẫn với khẩu vị của tôi Và tôi nói rằng tôi sẽ làm sau đó, và không chút nhạc nhiên, sau đó không bao giờ đến. Nghe quen không?


Thế nên tôi tự hỏi, có cách giải quyết thứ 3 không? Và tôi nghĩ về nó, Tôi nảy ra 1 ý kiến. Và tôi đã thực hiện nó suốt năm qua, và nó tuyệt vời. Nó gọi là ăn chay tuần. Cái tên nói lên tất cả. Ăn chay từ thứ 2 đến thứ 6 Đến cuối tuần, tùy ý bạn. Đơn giản. Nếu bạn muốn nâng cấp độ, hãy nhớ, thủ phạm chính, về việc hủy hoại môi trường và sức khỏe chính là thịt đỏ đã qua chế biến. Nếu bạn muốn đánh đổi nó với những con cá tươi lành mạnh. Nó đã như vậy, nên cuối cùng nó thật dễ dàng để nhớ. Nó ổn để phá vỡ luật lệ. Sau cùng,không ăn thịt 5 ngày 1 tuần là giảm đi 70% lượng thịt bạn dùng.


Chương trình này tuyệt vời, ăn chay tuần. Lượng thải cacbon của tôi nhỏ hơn tôi đang giảm ô nhiễm Tôi cảm thấy tốt hơn về cho những con vật. Tôi thậm chí còn tiết kiệm được Tốt hơn cả là tôi khỏe mạnh hơn, Tôi biết là tôi sẽ sống lâu hơn, và tôi còn giảm cân một ít.


Nên làm ơn, hãy hỏi bản thân bạn, vì sức khỏe của bạn, vì túi tiền, vì môi trường, vì động vật điều gì còn ngăn cản bạn để không thực hiện ăn chay tuần? Sau cùng, nếu tất cả chúng ta ăn phân nữa lượng thịt, thì phân nửa chúng ta là người ăn chay.


Xin cảm ơn.



Continue reading →

Nghi Thức Lạy Kinh Pháp Hoa

0 nhận xét

CÚNG HƯƠNG


Nguyện đem lòng thành kính. Gởi theo đám mây hương. Phưởng phất khắp mười phương. Cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo. Theo tự tánh làm lành. Cùng Pháp giới chúng sanh. Cầu Phật từ gia hộ: Tâm Bồ-đề kiên cố. Xa bể khổ nguồn mê. Chóng quay về bờ giác. O


TÁN PHẬT


Ðấng Pháp Vương vô thượng. Ba cõi chẳng ai bằng. Thầy dạy khắp trời người. Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm. Dứt sạch nghiệp ba kỳ. Xưng dương cùng tán than. Ức kiếp không cùng tận (xá 1 xá) O.


Phật, chúng sanh: tánh thường rỗng lặng. Ðạo cảm thông không thể nghĩ bàn. Lưới đế châu ví tựa đạo tràng. Mười phương Phật bảo, hào quang sáng ngời. Trước bảo tọa thân con ảnh hiện. Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. (xá 1 xá) O


CẦU NGUYỆN


Đệ tử chúng con xin thành tâm đảnh lễ, cầu xin chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Long Thần Hộ Pháp, hồn thiêng sông núi, cửu quyền thất tổ, hộ trì, cứu độ cho ……………… (cầu cho mình hoặc cho người khác, tuỳ ý ước nguyện gì khác)



  • Sớm thoát khỏi chướng duyên, bệnh tật, hiểm nghèo,

  • Thân tâm an lạc, trì tụng bái sám kinh Pháp Hoa,

  • Hướng về Phật Pháp nhiệm mầu,

  • Nguyện cùng thế giới chúng sanh đồng thành Phật Đạo.


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. O


ÐẢNH LỄ


Chí tâm đảnh lễ Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trú Tam Bảo. (1 lạy) O


Chí tâm đảnh lễ Nam mô Ta-bà Giáo chủ Ðiều ngự Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật, Ðương lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, Ðại Trí Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ-tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ-tát, Linh Sơn hội thượng Phật Bồ-tát. (1 lạy) O


Chí tâm đảnh lễ Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi A-Di-Ðà Phật, Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát, Ðại Thế Chí Bồ-tát, Ðại nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ-tát, Thanh Tịnh Ðại Hải chúng Bồ-tát. (1 lạy) OO


CHÚ ĐẠI BI


Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) O


Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.


Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ Đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tỏa.


Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị, ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa. Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị.


Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô yết mông. Độ lô đồ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na a. Ra sâm Phật ra xá lợi.


Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha.


Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha.


Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ. Ta bà ha.


Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.


Án. Tất điện đô. Mạn đà ra. Bạt đà gia. Ta bà ha. (3 lần) O


Con xưa vốn tạo các ác nghiệp, bởi vì vô thỉ tham, sân, si. Từ thân miệng ý mà sanh ra. Tất cả con nay xin sám hối.


Nam mô cầu sám hối Bồ Tát (3 lần) O (vô Kinh Đại Phước Đức, nếu muốn)


Cúi lạy đấng Tam giới Tôn,


Quy mạng cùng mười phương Phật,


Con nay phát nguyện rộng,


Thọ trì kinh Pháp Hoa


Trên đền bốn ơn nặng,


Dưới cứu khổ tam đồ


Nếu có kẻ thấy nghe


Đều phát lòng Bồ đề


Hết một báo thân nầy


Sanh qua cõi Cực lạc


Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần) O


(LẠY KINH PHÁP HOA)


Chí tâm đảnh lễ, Nam mô Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.


Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát…(108 lạy) O……………….


MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH


Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.


Xá-lợi tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.


Xá-lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.


Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.


Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc.


Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại. Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu kính Niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề .


Cố tri Bát-nhã ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa chú tức thuyết chú viết:


Yết-đế, yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha. (3 lần) O


VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN:


Nam mô a di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa diệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa tì ca lan đế. A di rị đa, tì ca lan đa. Dà di nị dà dà na. Chỉ đa ca lệ ta bà ha (3 lần) O


Nam Mô Tây Phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật (3 lần) O


Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần) O


Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3lần) O


Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần) O


Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần). O


(Nếu muốn thì tụng Dược sư Quán đẳng chơn ngôn ở đây trước khi hồi hướng)


HỒI HƯỚNG


Lạy kinh công đức thù thắng hạnh,


Vô biên thắng phước giai hồi hướng,


Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,


Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.


Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,


Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu,


Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.


Thế thế thường hành Bồ Tát đạo.


Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung


Cửu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu,


Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,


Phổ cập ư nhứt thiết,


Ngã đẳng dữ chúng sanh,


Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.


Nguyện dĩ thử công đức,


Giai cộng thành Phật đạo. O


Chí tâm quy mạng đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới giáo chủ, thọ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Như Lai biến pháp giới Tam bảo. O


TAM QUY-Y


Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy) O


Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy) O


Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy) O


Nguyện đem công đức nầy hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo. (3 xá, lui ra) O O O.



Continue reading →

Tân xuân Tùy Bút

0 nhận xét

Cứ mỗi độ xuân về lòng người như hân hoan rộng mở, nô nức háo hức chào đón xuân sang. Vì mùa xuân là mùa tươi đẹp gợi cảm, gây cho lòng người với biết bao niềm ước mơ hy vọng tràn ngập ở tương lai. Bất cứ ước mơ nào, người ta cũng nhằm hướng đến tô dệt nên nhiều mộng đẹp. Trong khi mơ ước, người ta lại quên đi cuộc sống hiện tại. Có người nghĩ rằng, vì cuộc sống hiện tại có quá nhiều đau khổ, nên khiến người ta phải nghĩ đến nuôi dưỡng nhiều mộng tưởng hy vọng tươi đẹp sáng lạn ở tuơng lai. Nuôi dưỡng niềm hy vọng để cho cõi lòng dịu bớt những căng thẳng bức xúc đau khổ trong hiện tại. Đó chính là phương cách trốn chạy không dám nhìn thẳng vào sự thật.





Niềm ước mơ hy vọng nầy, nếu nhìn ở một gốc độ nào đó, thì cũng không hẳn là hoàn toàn vô lý. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng, bất cứ một ước mơ nào, nó cũng chỉ là ảo tưởng biến hiện của dòng tâm thức mà thôi. Trong khi mơ ước, người ta lại không quan tâm gì đến những việc xảy ra trong hiện tại. Nhưng người ta đâu có ngờ rằng, chính hiện tại mới là cái chất liệu quan yếu để định hướng xây dựng sự nghiệp ở tương lai. Chối bỏ hiện tại là ta đã đánh mất cuộc sống. Một cuộc sống thật sự có mặt quý giá mầu nhiệm. Một khi đã đánh mất cuộc sống “Chân, Thiện, Mỹ” hiện tại, thì chúng ta đừng mong có được một cuộc sống tươi sáng rạng rỡ ở tương lai.

Từ ý niệm đó, cho chúng ta thấy rằng, đời sống có hạnh phúc hay khổ đau, đều hoàn toàn do chính chúng ta định đoạt lấy. Cứ nhìn vào kinh nghiệm bản thân, cho ta thấy rõ điều đó. Nếu bạn là một học sinh, bạn có quyền mơ ước đến cuộc sống tương lai của bạn. Bạn có thể vẽ ra với nhiều mộng đẹp. Điều đó, không ai có quyền ngăn cấm bạn. Nhưng thưa bạn, khi mơ ước điều gì, xin bạn chớ quên rằng, muốn đạt được lý tưởng ước vọng đó, thì bạn phải ý thức đến việc làm hiện tại của bạn. Nghĩa là bạn phải cố gắng hết sức mình trong việc học tập. Như thế, thì hiện tại chính là yếu tố quan trọng, nó có đủ thẩm quyền quyết định cho chiếc thuyền đời tương lai của bạn. Ngược lại, nếu chỉ là một ước mơ suông, thì bạn sẽ không bao giờ tựu thành mộng ước. Nếu như bạn không cắm rễ sâu vào hiện tại, thì chắc chắn cây tương lai của đời bạn sẽ khô héo tàn tạ và như thế thì không bao giờ có nở hoa và trái hạnh phúc được.


Nếu bạn là người tu hành đang tu tập theo pháp môn Tịnh độ chẳng hạn, bạn luôn thao thức mong mỏi là sau khi bỏ báo thân nầy, được sanh về thế giới Cực lạc. Điều nguyện ước đó, quả là một lý tưởng rất cao đẹp tuyệt vời. Tuy nhiên, nếu đó chỉ là một ước nguyện suông, thì bạn đừng hòng có được như thế. Mà đó chỉ là một ảo tưởng mơ hồ, thiếu thực tế. Nếu bạn muốn biến giấc mơ đó thành sự thật, thì hằng ngày bạn phải thành tâm tha thiết niệm Phật và tu tạo thêm nhiều điều phước thiện khác. Đó là bạn khéo biết, biến nhận thức thành hành động cụ thể. Có thế, thì điều bạn mong muốn, chắc chắn nó sẽ trở thành sự thật. Như vậy, có phải hiện tại là yếu tố chính nhằm quyết định cho hướng tương lai của đời bạn không? Xin bạn nhớ rằng, bất cứ một tương lai nào cũng phải bắt nguồn từ hiện tại mà ra.


Xin nêu ra đây một thí dụ cụ thể cho dễ hiểu. Như bạn muốn xây dựng một căn nhà, thì việc cần yếu trước tiên là bạn phải có tiền. Tiền và những điều kiện vật liệu khác, tất cả đều phải được chuẩn bị đầy đủ trong hiện tại. Khi đã chuẩn bị chu đáo rồi, thì căn nhà tương lai của bạn đã thực sự có mặt ngay trong hiện tại rồi. Vì cái quả nó đã hình thành có mặt ngay trong cái nhân. Như một hành động giết người, thì cái quả ngồi tù nó cũng đã có mặt ngay trong hành động sát nhơn đó. Ngược lại, nếu như, hiện tại bạn không có chuẩn bị thứ gì cả, thì việc ước muốn xây dựng căn nhà tương lai của bạn, chỉ là một mộng ước không tưởng mà thôi. Hiểu thế, cho chúng ta một kết luận về yếu lý của sự sống rất là cụ thể. Tất cả mọi việc đắc thất, thành bại, nên hư, đều bắt nguồn từ nơi hiện tại mà ra.


Những điều trình bày trên đây, là chúng tôi muốn trao đổi chia sẻ cùng bạn qua cái nhìn thực tiễn trong thế gian pháp hay tục đế. Nghĩa là với cái nhìn trong ước định thời gian tương đối. Nếu luận sâu hơn, mang tính chất thiền vị của chơn đế, thì thưa bạn, đời sống hạnh phúc hay đau khổ của bạn, nó nằm trong từng ý niệm của bạn. Bạn không cần phải tìm kiếm ở đâu xa. Bạn cứ sống thiết thiệt trong mỗi phút giây hành động của bạn. Một hành động hay lời nói của bạn phải luôn có mặt trời ý thức soi sáng. Được vậy, thì chính ngay giây phút đó là bạn đã có tràn đầy hạnh phúc. Bạn không cần phải mong cầu điều gì khác. Bạn cứ vui sống hít thở trong không khí chánh niệm. Bạn đừng để dòng tâm thức của bạn phiêu lưu trong ảo tưởng. Càng phiêu lưu chừng nào, thì bạn càng đánh mất bạn trong hiện tại và lẽ tất nhiên, bạn sẽ chuốc lấy nhiều khổ lụy đắng cay nhiều chừng nấy.


Một cuộc sống thật đơn giản, không lo âu, sợ hãi, và cũng không cần tính toán đến ngày mai. Vì ngày mai đối với bạn chỉ là thời gian trong hiện tại. Nếu không có hiện tại, thì làm gì có ngày mai? Tất cả chẳng qua chỉ là những danh từ giả lập và thời gian cũng chỉ là giả lập hình thành bắt nguồn từ vọng thức giả định của con người mà ra. Nói một cách nghiêm khắc cụ thể hơn, tất cả đều từ tâm bạn mà ra cả. Trong kinh Phật thường gọi là: “Nhứt thiết duy tâm, vạn pháp duy thức”.


Hẳn bạn còn nhớ bài kệ trong Kinh Hoa Nghiêm nói:



Nhược nhơn dục liễu tri


Tam thế nhứt thiết Phật


Ưng quán pháp giới tánh


Nhứt thiết duy tâm tạo.


Nghĩa là:



Nếu người nào muốn biết rõ


Tất cả chư Phật trong ba đời


Nên quán sát kỹ tánh pháp giới


Tất cả đều do tâm tạo.


Mọi sự vật ở đời, không có thứ gì ngoài tâm bạn. Tất cả đều biến hiện từ vọng thức của con người mà ra. Trở về dựng lại mùa xuân an lạc trong tâm thức của bạn, đó mới thực sự là mùa xuân miên viễn vĩnh cửu. Một mùa xuân, vượt ngoài phạm trù lý giải nhị nguyên thường tình. Mùa xuân đó, không còn có sự kỳ thị, tranh chấp, hận thù, hơn thua, đắc thất, thành bại, chiếm đoạt, thương ghét, hay thủ xả v.v…Chính đó mới đích thực là mùa “Xuân” mà lâu nay chúng ta đã không tìm thấy. Sống được như thế, không giây phút nào là bạn không có mùa xuân. Đó là xuân lòng ngát tỏa hương thơm rộng khắp đất trời vượt qua mọi thời gian và nơi chốn. Như thế là bạn sẽ bắt gặp mùa xuân chơn thường của Thiền Sư Mãn Giác đời Lý.



Xuân đáo bách hoa khai


Xuân khứ bách hoa lạc


Sự trục nhãn tiền quá


Lão tùng đầu thượng lai


Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận


Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.


Tạm dịch:



Xuân đến trăm hoa nở

Xuân đi trăm hoa rụng

Việc đời qua trước mắt

Trên đầu già đến rồi

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai.


Thiền Sư đã khơi dậy cho chúng ta nhận rõ mùa xuân miên viễn ở nơi chính mình. Xuân ngoại tại tự nó đã là mang yếu tính vô thường sanh diệt, vì đó là mùa xuân vận hành theo thời tiết bốn mùa của đất trời. Đó là mùa xuân theo ước định của thời gian giả lập. Khi xuân đến thì trăm hoa thi nhau đua nở. Nhưng khi xuân qua rồi, thì trăm hoa rụng hết không còn. Vạn vật đều có chung trong một quy trình: sinh, trụ, dị, diệt hay thành, trụ, hoại, không. Không có một hiện tượng nào thoát ngoài quy luật vô thường sanh diệt đó.

Tuy nhiên, nếu việc đời chỉ có ngần ấy, thì cuộc sống của con người sẽ mất hết ý nghĩa. Vì mọi vật chỉ xuôi theo dòng nước vô thường chảy trôi qua trước mắt. Sống theo một chu kỳ lặp đi lặp lại của những việc: ăn, mặc ở, ngủ nghỉ, làm việc v.v… rồi lão hóa và chờ chết. Thế là hết cuộc đời. Chấm dứt một đời người của kiếp nầy để rồi tiếp nối đi lang thang thọ báo qua đời khác. Cứ thế mà xuôi theo dòng nghiệp thức thọ báo khổ vui trong vòng luân hồi bất tận. Sống như thế, thì thật là vô vị nhạt nhẻo và khổ lụy biết bao nhiêu!


Nhưng ở đây, Thiền Sư đã hé mở cho chúng ta thấy rõ cánh cửa giải thoát. Không phải hoa mai rụng hết là không còn gì nữa. Nếu thế, thì chúng ta tu theo đạo Phật, cuối cùng, lại trở thành phái “Đoạn Diệt” hết sao? Không. Hoa mai tuy có rụng hết, nhưng cành mai nào có mất đi đâu. Cành mai vẫn còn có mặt sờ sờ đó. Có mặt sờ sờ, nhưng tại vì chúng ta bị mê vọng lầm qua không nhận ra đó thôi. Cũng thế, vọng tâm sanh diệt tuy không còn, nhưng chơn tâm vẫn hằng hiện hữu nào có mất đi đâu. Lâu nay, chúng ta quen nhìn đời bằng cặp kính màu vọng thức, nên nhìn đâu cũng thấy là chân thật. Đó là cái nhìn chủ quan chấp thủ vào hiện tượng, chỉ thấy sóng nổi lô nhô trên mặt biển mà chúng ta không nhận ra được sự yên lặng hằng hữu của mặt biển. Do nhìn theo lối biến kể sở chấp như thế, nên chúng ta mãi bị trầm luân đau khổ.


Thiền sư đã đánh thức cho ta cần phải thay đổi lối nhìn. Đó là cánh cửa đã mở tung ra cho chúng ta thấy trong cái vô thường sanh diệt, còn có cái chơn thường bất sanh bất diệt ẩn tàng trong đó. Đừng đi tìm cái chơn thường ngoài cái vô thường. Trong ngôi nhà năm uẩn lại có sẵn ông Phật vàng hay viên ngọc quý ẩn tàng trong đó. Nhận rõ điều đó, thì cuộc sống của con người mới thực sự có ý nghĩa và đáng sống. Sống để làm lợi ích cho tha nhân. Mượn con người giả tạm nầy để hành hoạt đem lại nguồn sống lợi lạc thiết thật cho mình và người. Hằng sống trong khung trời an vui giải thoát. Đó là chúng ta khéo biết dựng lại mùa xuân lý tưởng. Một mùa xuân chỉ có hoa và trái hạnh phúc. Đó cũng là một lộ trình rộng mở thênh thang tràn đầy xuân hoa tươi đẹp mà các vị Bồ tát đã đi qua.


Đối với người Phật tử xuân cảnh hay xuân tâm, đều không có gì là quan trọng. Điều quan trọng là phải luôn sống trong tỉnh thức chánh niệm. Sống có chánh niệm là sự sống tràn đầy ý nghĩa. Một sự sống không còn vướng bận chi phối, bởi bất cứ một ý niệm thị phi buồn vui nào. Một sự sống bao dung rộng mở tràn ngập khắp cả đất trời. Đó là chúng ta khéo biết hội nhập hòa mình trong nguồn sống của vũ trụ bao la. Nơi đó, không còn ý niệm tương tranh phân chia nhân ngã, bỉ thử. Triệt tiêu mọi vọng chấp đối đãi nhị nguyên. Đó mới chính là người Phật tử nhận lại mùa xuân thực tại miên viễn ở nơi chính mình.


Trong ý hướng tu tập, thiết nghĩ, là người tu học Phật, chúng ta cũng nên noi theo tấm gương trong sáng hạnh giải tương ưng của các Ngài mà chúng ta cất bước hành trình theo. Có thế, thì chúng ta mới thật sự vui xuân và thưởng thức hương vị của một mùa xuân miên viễn trong tận cõi lòng của người Phật tử. Cầu mong mọi người luôn tắm mình trong ánh sáng xuân quang và luôn bình an trong nếp sống.

Continue reading →

CÚNG SAO GIẢI HẠN

0 nhận xét

Hằng năm, cứ vào dịp đầu năm Âm Lịch, nhất là tuần lễ thứ hai trong tháng Giêng mà cao điểm là ngày Rằm, người Phật tử Việt Nam và Trung Hoa thường có lệ đi chùa dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn.  Vì là ngày Rằm đầu năm nên các chùa ở trong nước cũng như hải ngọai thường tổ chức lễ rất trọng thể nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng Phật tử.  Hầu như chùa nào cũng có chương trình cầu an đầu năm.  Tuy nhiên vẫn còn một số chùa nhận ghi danh Phật tử cúng sao giải hạn vào ngày Rằm tháng Giêng.

Đến thăm một ngôi chùa khá lớn và nổi tiếng tại Hà Nội vào dịp đầu năm vừa qua, chúng tôi cũng thấy chương trình cầu an đầu năm từ ngày mồng tám đến ngày Rằm, có cúng sao giải hạn.  Lễ Phật xong, chúng tôi vào phòng khách thăm thầy trú trì.  Trong phòng cũng khá đông Phật tử đến nhờ thầy xem tuổi, xem sao hạn và ghi danh vào danh sách cần cúng sao giải hạn.  Chúng tôi nghe thầy nói với một Phật tử: “Phật tử năm nay sao Thái Bạch, vào hạn khánh tận, thái bạch là sạch cửa nhà, phải dùng tám ngọn đèn hay tám ngọn nến làm lễ hướng Tây, mỗi tháng cúng vào ngày Rằm, khấn đức Thái Bạch Tinh Quân”.  Tới lượt Phật tử khác và cứ như thế, người vào người ra mang trong lòng nỗi buồn vui đầu năm theo những vì sao đã an bài cho đời mình trong năm.


Tôi rời chùa mà lòng như không vui, tự hỏi ai đã đem tập tục cúng sao giải hạn vào nơi già lam, biến chốn thiền môn nghiêm tịnh thành nơi thờ cúng Thần Tiên, cầu hên xui may rủi cho con người và cũng thương thay cho những ai đặt lòng tin không đúng chỗ, trao phận mình cho người khác sử lý qua việc khấn sao xin giải trừ hạn xấu.


Thật ra, lễ Rằm Tháng Giêng, còn gọi là lễ Thượng Nguyên là lễ hội dân gian ở Việt Nam, được du nhập từ nước láng giềng Trung Hoa phương Bắc.  Gọi thượng nguyên là cách phân chia theo Âm lịch: thượng nguyên (Rằm tháng Giêng), trung nguyên (Rằm tháng Bảy) và hạ nguyên (Rằm tháng Mười) của hệ thống lịch tính theo mặt trăng.  Theo một số sách Trung Hoa, như Đường Thư Lịch Chí, quyển 18 thì có chín ngôi sao phát sáng trên trời.  Có sách nói là bảy sao, rồi về sau có sách thêm vào hai sao La Hầu và Kế Đô.  Chín vì sao đó là Nhật Diệu, Nguyệt Diệu, Hỏa Diệu, Thủy Diệu, Mộc Diệu, Kim Diệu, Thổ Diệu, La Hầu và Kế Đô.  Có sách thêm sao Thái Bạch nữa thành mười sao.  Chín vì sao này hay còn gọi là Cửu Diệu là các sao phối trí theo các phương, sắp xếp theo mười hai chi và ngũ hành. Theo sách này cho rằng thì hàng năm mỗi tuổi âm lịch chịu ảnh hưởng của một vì sao gọi nôm na là sao chiếu mạng. Do đó có năm gặp sao tốt, có năm gặp sao xấu. Hai sao La Hầu và Kế Đô là sao xấu, là loại ám hư tinh vì hai sao này chẳng thấy được mặt trời.


Đó là theo tập tục dân gian vốn có từ thời xa xưa mông muội, khi mà con người cảm thấy quá bé nhỏ trước thiên nhiên, bị đủ loại bệnh hoạn mà chưa tìm ra thuốc chữa, cho là vì các vị Thần trừng phạt, nên sợ sệt trước đủ mọi loại Thần mà họ có thể tưởng tượng ra được, từ thần Sấm, thần Sét, thần Cây Đa, cây Đề, thần Hổ, thần Rắn, thần Núi, thần Sông (Hà Bá) v.v…


Nhưng căn cứ vào kinh sách liễu nghĩa của nhà Phật, theo lời Phật dạy trong Pháp Tứ Y : "y cứ theo kinh liễu nghĩa, chẳng y cứ theo kinh không liễu nghĩa", thì chúng tôi thấy không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa và cũng không có một nghi lễ nào gọi là cúng sao giải hạn cho Phật tử cả.  Tuy vậy, vẫn có một số ít chùa, ở những vùng địa dư còn chịu nhiều ảnh hưởng truyền thống tín ngưỡng dân gian đa thần, thì các vị tu sĩ Phật giáo cũng đành phải, gọi là tùy duyên hóa độ, tùy theo niềm tin của đa số quần chúng sơ cơ học đạo giải thoát, mà tổ chức các buổi lễ lạc, bên cạnh những nghi thức thuần túy Phật giáo, mục tiêu cũng vẫn là dùng phương tiện để hóa độ chúng sinh, từ từ chuyển tâm họ quay về bờ Giác. Ngoài ra, cũng có một số chùa ở chốn thị thành, mặc dầu biết việc cúng sao giải hạn là không phù hợp với chánh pháp nhưng vẫn duy trì, hoặc do nhu cầu phát triển chùa cần sự trợ giúp của thí chủ, hoặc vì lo ngại Phật tử sẽ đi nơi khác hay theo thầy bùa, thầy cúng mà tội nghiệp cho họ phải xa dần Phật đạo.


Tại sao chúng tôi nói là không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa và cũng không có một nghi lễ nào gọi là cúng sao giải hạn cho Phật tử cả.  Bởi vì tất cả họa và phước mà con người có được đều là do nhân quả của chính người ấy làm nên.  Bảy ngôi sao, chín ngôi sao hay mười ngôi sao nói ở trên là do chính con người đặt tên và vẽ cho mỗi ngôi sao mang một đặc tính, chứ đức Phật không hề nói về chúng.  Ngài dạy chúng ta về nhân quả.  Ngài dạy rằng không có quả nào từ trên trời rơi xuống, hoặc dưới đất hiện lên, mà đều do các hành động qua tâm, khẩu và ý của con người tạo ra.  Con người tạo nhân tốt lành thì quả tốt lành nhất định đến. Thí dụ như chúng ta muốn có cam ngọt thì chúng ta phải chọn giống hay chiết cành từ cây cam ngọt, như cam Texas chẳng hạn.  Thêm vào đó chúng ta phải chăm sóc, bón phân, tưới nước đúng thời kỳ, thì thế nào chúng ta cũng sẽ hái được cam ngọt.


Tương tự như vậy,  mọi sự thành công hay thất bại trong đời của mỗi người không phải do ai ban phát cho, mà do những cái nhân chúng ta tạo nên từ trước, khi nhân duyên đầy đủ thì quả thành.  Những nhân duyên xấu do chúng ta tạo tác sẽ trổ quả xấu, những nhân duyên tốt sẽ trổ qủa tốt.  Nhà Phật có câu “muốn biết thời quá khứ chúng ta đã gieo nhân gì thì cứ nhìn cái quả mà chúng ta đang lãnh.  Muốn biết tương lai chúng ta ra sao thì cứ nhìn cái nhân chúng ta đang gieo trồng trong hiện tại”; Tuy nhiên, nhân quả không đơn thuần mà rất đa dạng, trùng trùng, chẳng phải chỉ do trực tiếp ở đời hiện tại mà lại có thể do ảnh hưởng từ nhiều đời trong quá khứ, ngoại trừ những người tu hành liễu đạo, tới được trạng thái "Tâm Không" thì: "Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không"(Vĩnh Gia Huyền Giác).


Cầu xin quả tốt lành mà không chịu gieo nhân tốt lành, sợ hãi quả xấu, sợ hãi tai họa xảy đến, mà không dừng tay tạo nhân xấu, sự cầu xin ấy chỉ là việc hoang tưởng. Phật giáo dạy rằng bất luận việc gì xảy đến cho chúng ta, đều do một hay nhiều nguyên nhân, chớ không do ngẫu nhiên, thời vận hên xui hay số mạng an bài.


Đối với Phật giáo, không có ngày nào xấu, mà cũng không có ngày nào tốt, mà cũng không có sao hạn xấu tốt. Nếu ta đi coi xăm, bói quẻ, coi sao, coi hạn, thầy nói ngày ấy tốt mà lại đi làm những chuyện không tốt lành, như ăn trộm, gây gỗ, đánh nhau, giết người, chắc chắn chúng ta sẽ bị pháp luật trừng trị và ngày tốt do ông thầy nói ấy trở thành ngày xấu ngay. Như vậy ngày tốt, ngày xấu không có cơ sở, chỉ là do con người bày ra mà thôi. Lại thí dụ có hai đạo quân giao tranh, đều chọn ngày tốt và giờ hoàng đạo ra quân, vậy mà chỉ có một bên thắng, và cả hai bên, dù thắng dù thua, cũng đều có tử sĩ và thương binh. Chọn ngày tốt mà làm việc giết người thì quả trổ ra sẽ có chết chóc là vậy.


Đối với sự cúng sao giải hạn, nếu chỉ mua sắm lễ vật mang lên chùa để xin thầy cúng sao La Hầu, Kế Đô hay Thái Bạch gì đó để giải hạn xấu giùm thì nghịch lại lý Nhân Qủa. Nếu vị thầy cầu xin đức Thái Bạch Tinh Quân, đức La Hầu Tinh Quân, … tha tội, giải hạn xấu nổi thì những người giầu có cứ tạo ác rồi sau đó xin thầy cúng sao giải hạn cho tai qua nạn khỏi, cho khỏi bị tù tội, tạo nhân ác mà hưởng được quả thiện, thì toàn bộ nền đạo lý xây dựng trên quan điểm về lý Nhân Quả mà nhà Phật rao giảng phải sụp đổ sao?


Có người hỏi rằng, nếu chỉ tin vào quy luật Nhân Quả thì có nên cúng bái Cầu Siêu, Cầu An không?


Xin thưa, cúng bái Cầu Siêu, Cầu An khác với cúng Sao giải hạn.


Trường hợp Cầu Siêu, đó là một hình thức tưởng niệm người đã qua đời, với tâm thành ước mong thần thức người quá vãng được sanh về nơi tốt đẹp. Chuyện lời cầu có được đáp ứng hay không thì chưa ai chứng minh bằng khoa học được. Nhưng lòng thương nhớ mà thân nhân dành cho người quá vãng nếu được biểu lộ bằng những buổi lễ trang nghiêm, với niềm tin tưởng thành kính, chí tâm cầu nguyện cho người quá vãng, thì nếu như thần thức người quá vãng còn trong trạng thái thân trung ấm, sẽ có thể có cảm ứng tốt mà vơi đi nỗi buồn rầu, lo sợ, sân hận, có thể tạo được cơ hội cho nghiệp lành dẫn dắt mà tái sanh.


Ngay như những buổi cúng giỗ, nếu gia đình người quá vãng có thể thiết lễ trên chùa, cùng nhau vì người quá vãng mà tụng một thời kinh, dùng một bữa cơm chay tịnh, thì ngoài biểu tượng của lòng hiếu thảo từ con cái hướng lên cha mẹ, hoặc tình thương mến đối với người thân nhân đã qua đời, cũng còn là một duyên lành của những người tham dự với nhà Phật khởi lên từ kỷ niệm đối với người quá vãng.


Còn trường hợp lễ Cầu An thì chúng tôi thiết nghĩ, nếu muốn có được kết quả tốt thì chính người bệnh phải cùng với thân nhân tham dự buổi lễ. Mà phải tham dự với tâm niệm chí thành. Người bệnh và tất cả thân nhân đều đồng tâm chí thành tụng niệm, thì ngay trong những giờ phút chí thành đó, tâm họ đã thanh tịnh. Nhà Phật quan niệm rằng tất cả Thân và Tâm đều vô thường, cho nên khi Tâm chuyển thì nghiệp chuyển, nghiệp chuyển thì bệnh chuyển. Bệnh là do Thân, Khẩu, Ý Nghiệp xấu tạo nên.


Có câu: "Tâm được tịnh rồi, tội (nghiệp) liền tiêu".


Vậy muốn Cầu An cho có kết quả thì ngoài vị thầy, chính người bệnh và thân nhân phải cùng nhau hành trì để cho Tâm được tịnh. Sự kiện thân nhân nên cùng tụng niệm là để cho người bệnh được tăng trưởng niềm tin khi thấy có bạn đồng tu, chứ nhân vật chính vẫn phải là người bệnh. Còn như chỉ đưa tiền cho vị thầy để nhờ thầy tụng niệm giùm, rồi xoa tay hoan hỉ về nhà chờ kết quả thì trái quy luật nhân quả. Vị thầy tụng niệm thì Tâm thầy tịnh, người bệnh không được ảnh hưởng, ngoại trừ chút hy vọng.


Đức Phật là vị đạo sư, Ngài không làm chuyện bất công là ban phước hoặc giáng họa cho ai, đã dạy chúng ta rằng phải tạo nhân lành để hưởng quả tốt trong Nhân Thừa. Rồi Ngài dạy chúng ta con đường để thăng tiến trong năm Thừa của nhà Phật, từ Nhân Thừa, Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa, rồi đi tới giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.


Quý vị tu sĩ trong đạo Phật là Trưởng Tử Như Lai, hiển nhiên là phải nối tiếp bước chân của Đức Phật mà soi chiếu Ánh Đạo Vàng cho Phật tử, dạy Phật tử những điều Phật dạy trong kinh. Quý vị tu sĩ Phật giáo không phải là những người môi giới giữa Thần Thánh và tín đồ như tu sĩ của một số tôn giáo khác, tự nhận là có thể cầu xin Thần Thánh ban ơn giáng họa được. Chúng ta cần dùng trí tuệ để hiểu rõ con đường Giải Thoát của nhà Phật.


Trong kinh Phật Giáo Nguyên Thuỷ (kinh Trường Bộ), Đức Phật đã khuyên các thầy Tỳ Kheo, những người đã thọ dụng sự cúng dường của tín thí Phật tử, không nên thực hành những tà hạnh như: “chiêm tinh, chiêm tướng, đoán số mạng, xem địa lý, xem mặt trăng, mặt trời, các sao mọc lặn, sáng mờ, … sắp đặt ngày lành để đưa (rước) dâu hay rể về nhà, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, …”


Ngoài ra, cũng trong kinh Nguyên Thuỷ (Giải Thoát Kinh), Đức Phật đã dạy về giáo pháp của chư Phật.  Ngài dạy rằng:



Ai hành trì chánh Pháp
Là cúng dường Đức Phật
Bằng cách cao quí nhất
Trong các sự cúng dường…



Pháp mà Ngài dạy có thể tóm lược trong ba điều, đã trở thành quen thuộc với mọi người Phật tử:



Không làm các việc ác
Siêng làm các việc lành
Thanh tịnh hoá tâm ý…



Như vậy, nếu mỗi Phật tử đều hành trì ba điều Đức Phật dạy kể trên thì giờ nào, ngày nào, tháng nào hay năm nào cũng đều là giờ hoàng đạo, là ngày tốt, tháng tốt và năm tốt cả; đâu cần phải đi nhờ thầy cúng sao giải hạn nữa.  Và hành trì như thế mới là cách cúng dường cao quý nhất trong các cách cúng dường Đức Phật.


Continue reading →

CÓ NÊN ĐẶT MÓN CHAY TÊN MẶN KHÔNG?

0 nhận xét

Ngày nay ăn chay không còn là của các vị tu sĩ hay nói riêng của một tôn giáo nào. Khoa học đã chứng minh được rất nhiều sự lợi ích từ việc ăn chay cho nên không ít người đã chuyển chế độ ăn mặn sang hẳn ăn chay, gọi nôm na là ăn chay trường.


Nhưng cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều ý kiến cũng như phản bác chuyện lấy tên món mặn đặt tên món chay, mọi người đều cho rằng làm như vậy sẽ tác động tâm lý của người ăn chay họ sẽ phải thèm đồ mặn. Điều nầy cũng có phần đúng vì hiện nay trên thế giới đang kêu gọi mọi người hãy ăn chay để bảo vệ môi trường, nên có rất nhiều hoạt động khuyến khích ăn chay, làm sao để mọi người giảm bớt lượng thịt cá trong bữa ăn hàng ngày, nên điều trước tiên phải làm sao cho con người quên đi thói quen là trong mâm cơm phải có thịt hoặc cá.


Nhưng nói như vậy nghe thật là đơn giản, để thuyết phục người nhà mình ăn được một ngày chay quả thật khó vô cùng. Và ai cũng biết rằng mùi vị của món mặn thật hấp dẫn con người, dù biết ăn nhiều thịt cá dễ mắc bệnh nhưng vì thói quen thích ăn ngon nên họ vẫn không cưỡng lại được. Nên để có thể giúp một người có thể ăn được thức ăn chay một cách ngon như ăn mặn tôi nghĩ chúng ta không nên quá khắt khe với những danh từ đặt cho món chay.


Bản thân tôi là một người kinh doanh quán cơm chay và tôi cũng là một Phật tử, hàng ngày tôi tiếp xúc với rất nhiều dạng khách, có người ăn chay vì sức khỏe, có người ăn vì tôn giáo, có người vì khấn vái điều gì đó nay được ân trên phù hộ nên ăn chay trả lễ, thậm chí có người ăn vì cảm thấy ngán thịt cá quá nên ăn chay đổi khẩu vị, và có người ăn chay vì đang có bệnh bác sĩ khuyên nên kiêng đạm động vật nên bắt buột họ phải ăn chay.


Nên để thuận tiện trong việc giới thiệu món ăn tôi cũng phải sử dụng tên món mặn, như vậy họ dễ dàng hình dung đó là món gì. Vì nếu đặt tên tránh sử dụng tên mặn khách hàng sẽ hỏi món đó là món gì, ăn ra sao, tôi cũng phải giải thích ngắn gọn là giống như món mặn thôi, chẳng hạn như món Bánh Canh Cua chay nếu đặt tên mới khách hàng cũng chẳng biết đó là món gì và cuối cùng cũng phải giải thích là món Bánh Canh Cua chay. Nên dù đứng dưới gốc độ nào mong rằng chúng ta đừng chấp vào những tên gọi đó, hãy cố gắng dùng mọi phương tiện để giúp cho mọi người có thể ăn chay, không phải ai cũng đủ duyên và kiên trì khi ăn chay, họ có thể ăn được một buổi thì cũng tốt rồi, tôi tin chắc dần dần họ sẽ tự nhiên không còn thèm đồ mặn nữa.


Riêng về việc nấu đồ chay cúng dường cho các Thầy trong chùa tôi hoàn toàn tán thành ý kiến không nên đặt tên mặn. Mong rằng sự chia sẻ nho nhỏ của tôi mọi người sẽ có cái nhìn mới về chuyện đặt tên cho món chay và rất mong mọi người cùng nhau chia sẽ những ý kiến của mình để mọi người càng hiểu thêm cũng như khuyến khích tất cả mọi người hãy giảm bớt lượng thức ăn động vật tăng cường sử dụng thức ăn từ thực vật để cuộc sống chúng ta càng ngày thêm Sạch và Xanh.



Continue reading →

ĐẠI LỄ VESAK TẠI MELBOURNE: NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY

0 nhận xét

Trong ba năm Đại lễ Vesak được tổ chức tại Melbourne, 2010 là năm tôi học được nhiều kinh nghiệm nhứt.


Năm đầu, tôi chỉ mặc áo dài lên khán đài dâng hương hoa. Năm thứ nhì , Rachael nhờ tôi dịch thư rồi đại diện Ban tổ chức điện thoại cung thỉnh quý thầy Việt Nam và viết thư đăng báo, lên đài SBS  kêu gọi quý đồng hương Phật tử tham dự Đại lễ. Đến năm thứ ba 2010, Rachael bỏ nhỏ với tôi là nhờ tôi vận động cho kỳ gây quỹ để trang trải những chi phí cần thiết cho đại lễ.


Tôi còn nhớ khi tôi gọi điện thoại cho thầy Tâm Phương, thầy Tịnh Đạo, Thầy Tâm Minh, thầy Tánh Thiện, thầy Thông Hiếu, thầy Phước Thể, thầy Nhuận Chơn, thầy Đồng Thanh cùng quý Sư cô Huyền Đạo, Sư cô Chân Kim, Sư cô Như Tài, Sư cô Nhật Liên, Sư cô Nguyên Khai rồi cả nhóm tăng thân Trúc xanh nữa...Quý Tăng Ni đã không ngần ngại và  tham gia chương trình gây quỹ rất tích cực. Mỗi vị nhận một bàn mười người. Con số lên đến 110 người tham dự. Còn hạnh phúc nào hơn hạnh phúc này. Tôi nhớ thầy Tịnh Đạo nói: “ Việc Phật sự mỗi người phải góp một bàn tay.” Rồi thầy Tâm Phương khuyến khích tôi: “ Diệu Thông cứ gởi vé, thầy cho Phật tử đến tham dự.” Rồi Sư cô Huyền Đạo với giọng đầy hứa hẹn: “ Huyền Đạo sẽ  gởi người và kêu gọi Phật tử cúng dường thêm.”


Ba tuần trước đêm gây quỹ tổ chức, Thầy Phước Tấn đi Hồng Kông mất tiêu. Rachael tỉnh rụi. Tâm Hải lo sốt gió, cô nói: “ Chị tổ chức gây quỹ  mà không báo ai biết cả. Chị cần bao nhiêu bàn , để sắp xếp  rồi còn nấu nướng nữa. Rồi âm thanh ánh sáng chị không báo Tony?”  Tôi biết có đính chánh cũng mất công nên tôi báo Rachael, cô tỉnh bơ nói: “ Thầy nói thầy báo hết rồi. Tại sao tôi phải báo cho ban âm thanh và ánh sáng , hễ nhờ nhà hàng thì nhà hàng lo hết phần đó.” Tôi không muốn bàn cãi thêm vì tôi chỉ  là trung gian điện thoại qua lại. Anh Thắng nhận sắp xếp bàn theo yêu cầu của chúng tôi mà không qua trung gian nào khác


Vì tôi vận động bán được gần 100 vé nên mọi người trong ủy ban muốn thấy mặt tôi. Trước đó Rachael và tôi có buổi họp nhỏ để tôi nắm tình hình vì bấy lâu nay tôi chỉ là một agent cho Rachael mà thôi. Tôi có đề nghị cho 1 hộp đựng tiền cúng dường trước cửa và kêu gọi người mang quà để đấu giá. Cô làm một và bỏ một. Tôi vào họp, thấy những khuôn mặt khá quen thuộc, vậy cũng dễ làm việc. Tôi được nằm trong tiểu  ban vận động và tài chánh, cũng oai thiệt !


Hai tuần trước buổi tiệc vé mới ra, muốn mời các liên viên trong chùa thì cũng phải đúng ngày thọ bát, quá ngày thì khó mà gặp ai để mời. Rachael đem vé đến chùa vào lúc cuối giờ của ngày thọ bát không ai hay cả. Tôi vận động ráo riết nhưng bản mặt tôi nói ai mà nghe, thời may thầy từ Hồng Kông điện về kêu gọi. Tâm Hải giao chị Từ Hương bán 40 chục vé, chị Từ Hương bán vé thiên hạ ùn ùn gọi nhau mua mà không có vé để đưa. Ôi chuyện chùa Quang Minh là chuyện mà muôn đời nói không hết được!  Tâm Hải gọi báo 40 vé dành cho chùa bị thất lạc chắc là chạy theo thầy  Thiện Thuận về Việt Nam rồi. Tôi phải bảo đảm là có vé khác để chị Từ Hương tiếp tục bán. Cái mặt của tôi mà đứng ra bảo đảm vé, vậy mà Tâm Hải và chị  Từ Hương cũng tin làm thiệt, vé tiếp tục bán tiếp . Trưa Chúa Nhựt cách ngày đãi ăn đúng sáu bửa Rachael mang thêm 40 vé nữa đến chùa.


Kinh nghiệm năm rồi,  cộng với sĩ số người Việt tham dự lên cao, Rachael yêu cầu tôi phụ thêm với cô trong vai trò thông dịch cho MC và các diễn giả. Tôi nhận lời nhưng yêu cầu cho biết tên của các diễn giả và theo phép thì phần nội dung cũng cần được báo trước. Rachael hăn hái email mọi người và ra điều kiện, mỗi bài diễn văn chỉ dài 1 phút mà thôi. Tôi chờ dài cổ không ai email cho tôi hết, vậy là huề.


Thầy Andrew lo sấn bấn vì không tìm được các em cho vào đội múa. Thầy trụ trì cười cười đi ra ngoài quán ăn, quơ tay một cái dẫn lủ khủ nào cha, nào mẹ nào con cái vào trình diện. Cô Linda, thầy Andrew và Rachael  nằm trong ban trông nom các em trong đội ca múa. Khác hơn mọi năm, năm nay thầy Andrew chủ trì về việc ca nhạc. Có chủ đề, có bài bản đàng hoàng nên mang đầy ý nghĩa trong việc trình bày sự tích,  trong đoạn đầu đời của đức Phật. Một little Buddha và một thái tử Sidartha được tuyển chọn. Chuyên viên ca múa được mời đến hướng dẫn bước đi và sắp xếp đội hình. Cả hơn ba tháng trời đội ca múa tập dợt là ba nhân vật chánh phải có mặt để trông coi. Thầy Andrew vừa soạn nhạc vừa viết lời, vừa thu băng hát hò, vừa luyện tập ca đoàn Phật tử. Công việc viết lời phổ nhạc rồi thu băng phải tốn cả gần nửa năm trời.  Việc hòa nhạc và thu băng thầy Andrew cũng có nhờ thêm một nhạc sĩ bạn là anh Roger  McLachlan phụ giúp. Tôi không ngờ cô Linda lại có bàn tay quá dịu dàng để được nằm trong đội múa. Cô  cũng cho biết một little Buddha đã được lựa chọn từ trong đội múa,  thật xinh xắn và ngộ nghĩnh chính là bé Thanh Tâm  con của cô Diệu Liên trong đạo tràng. Còn Thái tử Sidartha  là cậu bé người Úc 14 tuổi con của cô Anna Halasoff  là Giảng sư tại đại học Monash. Thầy Andrew cho biết  thoạt đầu thầy định để thái tử Sidartha ca một mình, nhưng sau thầy thấy không vững , sợ làm mất hay thì thầy thế giọng. The Queen thì đã có chuyên viên là cô Hiếu sinh viên trường Y  chuyên đóng vai này từ bao nhiêu năm nay. Chỉ phần âm nhạc thôi mà bao nhiêu con tim và khối óc đã cống hiến.


Một tuần trước buổi tiệc, ngũ long công chúa: Tâm Kiên, Ngọc Phương, Ngọc Diệu, Hương và Bình luôn cả công chúa đội đèn Mỹ Phương là những mầm non nấu bếp chính cống của chùa Quang Minh chuẩn bị xếp giấy để bàn.  Đúng ngày thứ Bảy 27/03/2010, bốn mươi chiếc bàn được sắp xếp thành hình cánh cung vòng quanh sân khấu mới chùa Quang Minh với những chiếc khăn hồng hình đóa sen tô điểm trông thật đẹp mắt. Ban trai soạn ngoài các đầu bếp chính cống còn có những cụ già cũng xung phong xuống làm công quả cuốn từng chiếc bò bía, dimsim, chả giò, sushi. Rồi nào gỏi, bánh xèo.cơm chiên, chả giò, súp. . v.v. v  .các món ăn vừa ngon miệng vừa đẹp mắt. Chưa đến giờ mà khách ùn ùn đến, ngoài  việc vé mua mà không ngồi ăn còn có cả tiền cúng dường để đầy bao thư. Tôi chạy vào hỏi Rachael chiếc hộp để tiền cúng dường, cô nói cô tưởng là chắc không cần thiết nên cô không làm. Bốn mươi bàn đầy nghẹt.


Năm phút trước khi mở màn anh chàng Frank, người đại diện ban tổ chức mở đầu buổi lễ, chạy lại trao cho tôi hai trang giấy đầy những chữ là chữ, đó là bài diễn văn 1 phút của anh. Còn cô Kim đứng kế bên cũng bắt đầu mở máy điện thoại 3G của cô đưa ra bài nói về việc tuyển mộ nhân viên thiện nguyện.


Tôi nhìn quanh quất không thấy thầy Phước Tấn mà cũng không thấy thầy Phước Thái để cầu cứu; chắc là  quý thầy phải truyền thiên nhỉ thông, thiên nhản thông, còn những cái gì mà có chữ thông thì giao hết cho tôi để tôi đọc hết tư tưởng của họ chứ làm sao tôi nhớ hết. Tôi nhớ quý thầy bảo, muốn bình tỉnh thì phải hít vào thật sâu rồi thở ra thật nhẹ và quên hết mọi việc. Tôi quả có quên hết mọi việc, có một cụm từ Victorian Buddhist Council tôi dịch hàng chục lần mà đúng vào giây phút đó tôi quên mất tiêu nó là cái gì. Tôi ư,ư cho một hồi cuối cùng tôi quyết định nói bằng tiếng Anh, từ đó như cái nút chai champagne được bậc ra, tôi thấy nhẹ và tự tin hơn.


Không biết anh chàng Frank có run hay không mà theo cam kết trước khi lên sân khấu là anh đọc từng đoạn cho tôi dịch, một trang thì cũng ít nhứt là 7 hoặc 8 đoạn gì đó. Anh ta nín thở, đọc một lèo nguyên cả trang. Nhưng cũng phải nói điều bất tiện là chúng tôi chỉ được quyền sử dụng chỉ có một cái microphone mà thôi. Rồi cô Prue đại diện cho Pháp vương Zimwock Rinpoche, vị chủ tịch của ban tổ chức Đại lễ,  đọc nguyên cả trang không ngừng nghỉ.


Trả lại cho trái đất những gì của thời ban sơ, tôi học phòng cháy chữa cháy, cấp cứu tùm lum, phải mà tôi biết là những bao giấy dún đựng chiếc bánh  bông lan nhỏ là sẽ chứa những chiếc đèn cầy trắng be bé, xinh xinh để tiết kiệm điện là tôi sẽ yêu cầu dẹp ngay, nhưng chắc gì ai nghe tôi ! Sư cô Chi Kwan phải báo động là có vài bàn lửa đã rình mò rồi ăn lém mấy bao giấy nõn nà dễ thương kia và đã phát hỏa, nhưng kịp thời dập tắt.  Chúng tôi phải yêu cầu dẹp đi những chiếc đèn cầy nên thơ tiết kiệm điện. Vậy là cũng xong buổi tiệc chay gây quỹ. Mọi người  đều hài lòng.


Sau buổi tiệc chúng tôi có họp buổi họp trước khi thầy về Việt Nam. Anh chàng Frank ngồi nói liên tu bất tận việc phổ biến và quảng cáo  ngày đại lễ cùng gởi tặng chiếc lá bồ đề dành cho ngày Vesak qua email. Thầy Phước Tấn có đề nghị là đến từng chùa Việt Nam phổ biến,  tôi ủng hộ ý khiến đó nhưng không đủ duyên để thực hiện.


Sau đó,  tôi có yêu cầu cô bạn trong ban tổ chức nên viết thư cám ơn quý Tăng Ni đã nhiệt tâm ủng hộ buổi tiệc chay gây quỹ. cô cho ý kiến hay, tôi ngồi chờ hoài không thấy thư, tôi cũng biết công việc lên ngập đầu mọi người,  tôi không trách được mà tôi cũng không muốn nhắc. Trong tinh thần đồng đội khi làm việc, tôi thường xin phép và bàn về việc mình làm. Tôi xin được thông báo về việc chiếc lá bồ đề phát không cho ngày Vesak, tội nghiệp vì có lẽ quá mệt mỏi  nên cô bạn tôi cho là  không nên đề cập đến nó trong thông báo. Tôi cũng yêu cầu cô trưởng ban tài chánh in giấy quảng cáo khổ A3 để đi dán  những nơi  đông người Việt, cô cũng đồng ý,  chắc là cái cổ của tôi cũng còn ngắn nên tôi cũng chờ nữa. Tôi chờ thầy về để xin phép nhưng thầy đi lâu quá mà chưa thấy về. Còn một tuần đến ngày Đại lễ, tôi  tự quyết định cho thông cáo vào trang web, báo chí và đài. Cuối cùng tôi  nghĩ và làm là recycle những giấy quảng cáo trong buổi tiệc chay gây quỹ cắt dán phần thông cáo  có ánh đạo vàng và Đức Thích Ca ngồi dưới cội bồ đề rồi báo luôn về chiếc lá bồ đề được gởi tặng. Tôi lấy luôn những lá thư gởi cho quý thầy cô có chữ Vesak màu vàng óng ả đắp vào đó là phần thông cáo, cũng phải trên 60 tờ lận. Vậy mà xem ra cũng ăn khách lắm chứ,.


Tôi đến chùa ngày Thứ Bảy 14/05/10 thọ bát, dự định nhờ Viên Như chở đi dán mấy tấm quảng cáo cắt ráp vụn về của tôi. Viên Như về Việt Nam mất tiêu. Tôi thấy Nguyệt Thiện, chộp ngay cô nàng nhờ chở dùm. Tôi gom tất cả hình ảnh được khoảng 21 tờ có hình Đức Phật ngồi cội Bồ đề. Dán tại chùa Quang Minh hết 4 tờ  Gởi Hiếu tiệm vàng, Bồ đề trai, phần còn lại  chúng tôi ra phố St Alban.  Chưa có lần nào tôi thấy sự mầu nhiệm hiển bày như lần này, chúng tôi đem hình Ngài đến đâu thì mọi người ra đón tiếp hoặc gặp mọi thiện duyên để được trình bày trên những cánh cửa kiếng ở những nơi tốt đẹp nhứt. Tại  ngay thư viện St Alban, nhân viên trông coi thư viện tiếp đón nồng hậu giúp đở phần in quảng cáo, cắt ráp và để một bản vào mục Tin Tức Cộng Đồng có tại thư viện. Cô Nguyệt Đạo vui vẻ nhận ba tấm quảng cáo dán trong vùng Richmond.


Ai cũng biết rằng muốn gặp thầy trụ trì của một chùa thì đâu có dễ, vậy mà khi đến chùa Hoằng Pháp, xe chúng tôi vừa đổ xuống là thầy Tâm Minh bước ra và bước tới ngay đầu xe, thầy vui vẻ hỗ trợ nhưng cho biết là thầy không đến tham dự.


Đến chùa Phật Tổ, Sư cô Kim Hoa đón tiếp nồng hậu và yêu cầu cho 50 lá bồ đề liền trong buổi chiều ngày hôm đó. Tôi lo lắng vì Rachael là người giữ tất cả những  chiếc lá nầy, mà muốn tìm cô đâu phải là chuyện dễ làm. Vậy mà khi chúng tôi trở lại Quang Minh, tôi còn đang đi lững thững đến hội trường cũ thì xe Rachael thắng ngay mũi chân, cô gọi tôi rối rít. Vậy là hai chúng tôi vui vẻ đem 50 lá Bồ đề giao cho chùa Phật tổ.


Tôi vẫn thầm khấn cho chồng và con tôi tham gia công tác Phật sự nhiều hơn; qua ngày Chúa Nhựt tôi cùng gia đình ra Footscray ăn trưa, rồi vào Little Saigon và những quán lân cận để dán quảng cáo. Vừa dán xong bản nào là có người đến xem bản đó, ban đầu còn một vài người , sau rồi năm ba người  rồi nhiều người đến xem. Ông xả và con gái thấy thích và hứa năm sau làm nữa. Xem ra là những vùng đông cư dân người Việt đều có bản thông cáo này.


Tôi cho là những việc mà tôi vừa kể như có điều mầu nhiệm, vì không tài nào tôi có thể sắp đặt được những sự kiện trùng hợp ngẩu nhiên và đầy thuận lợi như thế được.


Ba cô công chúa trong ban nấu ăn của chùa Quang Minh là Tâm Kiên , Hương và Bình   hè nhau làm cây hoa vô ưu cả ngày trời cho ban ca múa, để Hoàng hậu vịn khi thái tử chào đời trông đẹp mắt và đầy sáng tạo.


Vậy rồi cũng đến ngày trọng đại đó là 22/05/10. Từ  7. 30 sáng là cả trăm nhân viên thiện nguyện lo trang hoàng sân khấu. Cờ phướng giăng đầy đường.  Ngũ Long Công Chúa Ngọc Diệu, Ngọc Phương, Hương, Bình  và Tâm Kiên trong ban hậu cần chùa Quang Minh hoạt động ráo riết để cung cấp thức ăn cho cả trăm thiện nguyện viên có mặt tại Melbourne Town Hall. Còn công chúa đội đèn Mỹ Phương sau khi tìm được chiếc nhẩn trong cái bánh cưới thì đã đi theo kè anh chàng hoàng tử Tony phụ xách đồ nghề quay phim.  Rồi nào mì, nào bún, nào cơm, nào bánh khọt bày đầy cả nhà bếp tại đây.


Thấy chưa, ai bảo làm thiện nguyện là đói, thức ăn bày lên tận mũi. Vậy mà chỉ có mình tôi đói, vì tôi là đứa tới trễ, đến là vào việc ngay, nên không có miếng cơm bỏ bụng.


Một giờ, rồi một giờ rưỡi quý thầy bên chùa Tây Tạng đến lơ thơ, Sư cô Như Tài, Sư cô Kim Hoa và thầy Tánh Thiện  đến trước, chúng tôi hơi buồn vì cũng còn thấy hơi thưa. Anita đến trao cho tôi dải  lụa đeo trước ngực có hàng chữ VESAK và tên, rồi dặn sau phần ca nhạc là tôi sắp hàng cùng với quý vị trong ban tổ chức lên sân khấu nhận quà. Ay da, vậy là rắc rối, tôi có làm gì đâu mà được  quà. Rõ ràng là ban tổ chức quá rộng rãi, thôi để đó tính sau.


Gần hai giờ quý thầy phái Nam tông gồm, chùa Miên, chùa Thái chùa Miến và chùa Lào tề chỉnh tiến đến phòng ghi danh. Kế tiếp là  Sư cô các chùa Tàu cũng tới. Chúng tôi lo không xuể, Nguyệt Thiện và tôi nhìn nhau cười thỏa mãn.


Hai giờ đúng đạo tràng Quang Minh hơn trăm người như một làn sóng tràn vào hội trường. Anh chàng Gerald  là người vẻ họa đồ sắp xếp cách bày trí trong hội trường và hướng dẫn khách vào; khi nhìn bộ đồng phục của quý vị liên viên, tưởng lầm là quý Tăng Ni chùa nào đó, nên điệu họ vào phòng khách để ghi danh. Thời may, tôi đến kịp và giải  cứu quý liên viên, rồi đưa vào hội trường ngồi tề chỉnh trông thật đẹp mắt.


Hai giờ mười phút đoàn tăng ni chùa Phước Huệ, Quang Minh, Linh Sơn và chùa Huệ Quang đến, Nguyệt Thiện và tôi chạy vắt giò lên cổ để tìm bảng tên cho chư tăng ni, chiếc lá bồ đề huyền diệu và quà tặng.


Vậy là cũng xong, tôi thở dài nhẹ nhỏm vì chờ lâu quá mà chưa thấy quý thầy đến thì lo. Đó là điều nguyện ước cuối cùng của tôi trong ngày hôm nay là làm thế nào để cung thỉnh chư Tăng Ni đúng theo cung cách và truyền thống của người Việt Nam. Tôi làm được như lòng đã nguyện.


Đang đứng nghe bài diễn văn khai mạc của Pháp Sư Zimwock thì có một cô người Việt chạy đến mặt mày xanh lè xanh lét vừa thở vừa nói: “ The little Buddha doesn’t  want to play( act ).” Vậy là tôi và cô chạy đi tìm bà mẹ của cu cậu. Thuở xưa trong lễ hạ điền, The little Buddha  chỉ ngồi dưới cây hồng táo, không có sử dụng máy games và chứng được quả sơ thiền. Ngày nay bao nhiêu trò chơi điện tử, The little Buddha Thọ Quang của chúng tôi đã giận dỗi vì không được các bạn cho chơi games. Cu cậu bèn làm một màn nhõng nhẽo không thèm ca múa, bôi hết cả mặt mày làm ban tổ chức xanh mặt. Tôi còn thấy đôi mắt đen ươn ướt và khuôn mặt phụn phịu của cu cậu khi ra trình diễn.


Bốn giờ rưỡi đúng, phái đoàn chùa Quang Minh ùn ùn đứng lên rời khỏi hội trường.


Tôi nhớ hai câu thơ Phạm Thiên Thư:



Rằng xưa có gả từ quan,

Lên non tìm động hoa vàng nhớ thương...


Tuy tôi không phải là Từ Thức, mà tôi cũng không tu tiên,  nhưng  đâu phải vì vậy mà tôi không được quyền từ quan và lên non hái những cánh hoa vàng  mà mình thích.  Một ý nghĩ thật dí dỏm  chợt thoáng hiện trong tôi và tôi quyết định làm gả từ quan của Phạm Thiên Thư. Như vậy thì giải lụa đeo trước ngực và bảng tên của mình  cũng được xem như là ấn vua ban rồi còn gì. Thế là tôi liền lột bỏ chúng ra và trao lại cho người bạn kế bên. Tôi đã làm xong hết những ước nguyện của tôi rồi. Thanh thản tôi bước ra khỏi hội trường. Bây giờ tôi có quyền chọn phần thưởng cho chính mình: đó là việc được ngồi chung xe buýt trở về ngôi chùa Quang Minh yêu quý và cùng với các bạn đạo  chia nhau những nụ cười, được nghe những âm thanh quen thuộc trong câu chuyện,  mà tôi cho nó chính là những đóa hoa vàng ngàn năm không mong đợi của tôi.



Continue reading →

Một thoáng nhìn lại chuyến hành hương

0 nhận xét


Hành hương chiêm bái đất Phật giống như được trở về cội nguồn tâm linh, nơi mà Đức Phật Thích Ca đã sinh ra, thành đạo và hoằng pháp độ sinh. Điều mong mỏi nhất trong đời người con Phật là được trở về thăm Phật tích một lần. Trong năm vừa qua, Chùa Hoa Nghiêm - Quang Minh, có đủ thuận duyên tổ chức chuyến đi hành hương "Theo dấu chân Phật", đồng thời cũng ghé thăm các Chùa tại Singapore trong tuyến đường trở lại Melbourne.


Theo dấu chân Phật, trở về những nơi khi ngài còn tại thế, đoàn hành hương đã không ngần ngại những phương tiện đi lại khó khăn với tấm lòng thành kính hướng về đấng Từ phụ. Về chiêm bái và nhìn lại những đền đài tu viện xưa kia, ngày nay vẫn còn những vết tích có nơi không còn nguyên vẹn, mà một thời Phật giáo đã phát triển rực rỡ nơi đây.


Điểm chính yếu của chuyến đi chiêm bái nầy là Tứ Động Tâm - nơi Phật Đản sinh, Phật Thành Đạo, Thuyết Pháp lần đầu tiên và Phật Nhập Niết Bàn. Với chặng hành trình kéo dài 13 ngày, ngoài Tứ Động Tâm, đoàn còn có cơ hội viếng thăm những khu di tích văn hóa, mà người Ấn Độ đã tự hào, họ đã có một nền Văn minh hơn mười nghìn năm trước. Viện Bảo Tàng là nơi trưng bày nhiều cổ vật quý giá thuộc hàng quốc bảo trong đó có Xá Lợi Phật. Đến thăm Khải Hoàn Môn, mộ của thánh Gandhi, người đã có công dành độc lập từ bàn tay Anh thống trị bằng con đường thương thuyết - bất bạo động. Thêm vào đó, đoàn đã có thời gian dành ra 2 ngày tại miền Tây Nam - Ấn Độ để tham quan hai hang động Ellora và Ajanta, nơi được coi là di sản văn hóa của UNESCO.


Đặc điểm trong chuyến đi hành hương lần nầy, khởi hành vào ngày 17/11/2010 với 67 Phật tử tham dự chúng tôi nhận xét có những điểm nổi bật như sau:


Về Thăm Viếng Phật Tích: Chuyến hành hương Phật Tích kỳ nầy, rất may mắn được thầy Chơn Minh phụ trách về phần lịch sử. Thầy hiện đang phụ trách phân khoa giảng dạy " Lịch Sử Phật Giáo" ở Học Viện Phật Giáo - Sài Gòn. Có thể đây là chuyên môn nên Thầy giải thích rất dễ hiểu, gần gũi và có phần hài hước, thu hút người nghe. Trong suốt chuyến đi, thầy đã thuyết minh rõ ràng từng nơi thánh tích liên quan đến đời sống của Đức Phật ngày xưa - nghệ thuật kiến trúc điêu khắc và đặc biệt kiến trúc các ngôi bảo tháp còn tồn tại. Từng thời điểm lịch sử, sự kiện lớn nhỏ được phân biệt rõ ràng, đánh tan những điểm nghi ngờ thắc mắc trong lòng nhiều người mà từ lâu chưa gặp ai giải thích thoả đáng.


Về Đời Sống: Nhờ sự sắp xếp chu đáo của Ban Tổ Chức và Sư cô Như Nguyệt trong nhiều tháng trước, nên đoàn hành hương chúng ta kỳ nầy đã được một số tiện nghi khá ổn định. Đoàn nghỉ ngơi ở các khách sạn, và có được những buổi ăn chay đầy đủ, so với kỳ trước thì phải mang thức ăn từ Úc sang. với những món rau cải đơn giản, nhưng rất healthy giàu dinh dưỡng vì đa số nông gia Ấn trồng rau quả ít sử dụng phân hóa học. Đương nhiên các bữa ăn lúc nào cũng không thể thiếu Cà ri chánh hiệu và bánh chapatis, còn nghệ là gia vị chính cho các món ăn.


Về phương tiện đi lại: Đoàn sử dụng hai xe Bus với tiện nghi đầy đủ, hơn nữa, với 4 chuyến bay trong nước, nên tất cả mọi người trong đoàn không có xảy ra bệnh hoạn nào nghiêm trọng. Mặc dù trong đoàn kỳ nầy có nhiều người cao tuổi và bệnh nan y, ai nấy về tới Melbourne cũng đều khỏe mạnh vui vẻ hoan hỷ cả.


Về Từ Thiện: Một điều không thể ngờ được trong chuyến hành hương nầy, với ý nghĩ chúng tôi kêu gọi quý Phật tử đóng góp một ít tiền làm từ thiện để tăng thêm phần ý nghĩa cho chuyến chiêm bái tu học hơn là mục đích cứu trợ, vì chúng ta không có nhiều thời gian tại Ấn Độ. Một điều xảy ra không ngờ, chỉ trong vòng khoảng 20 phút kêu gọi mà số tiền đóng góp lên hơn bốn mươi ngàn đô. Do đó, Ban tổ chức phải có một phiên họp nóng để vạch ra kế hoạch từ thiện tại đất Phật (xin xem thư cảm tạ).


Gần hai tuần tu tập và làm công tác từ thiện ở bang Bihar, đoàn hành hương tiếp tục chuyến hành trình bay xuống Aurangabat, vùng Tây Nam Ấn Độ tham quan hai hang động Ajanta và Ellora, vùng đất mà Phật giáo đã có một thời kỳ phát triển rực rỡ sau kỷ nguyên Tây Lịch. Nơi đây người ta đục sâu vào trong dãy núi để làm các tu viện cho chư Tăng tu học cùng với nghệ thuật chạm trổ điêu khắc các tượng, phụng thờ Đức Phật trên những vách núi cao . Đây là những công trình nghệ thuật tôn giáo cổ xưa với đường nét độc đáo vẫn còn nguyên vẹn hơn cả ngàn năm cho đến ngày nay.


Thấm thoát hai tuần trôi qua thật nhanh, mọi người đã chìm sâu theo dấu chân Phật từ Vườn Lộc Uyển nơi Phật thuyết pháp lần đầu tiên, qua Sông Hằng Huyền Bí, đến tu tập ở cội Bồ đề nơi Phật thành đạo v.v... Dưới cội Bồ Đề này, hình ảnh của Đấng Từ Phụ, người đã mở ra con đường giác ngộ và độ sanh, đã in đậm trong lòng người con Phật. Mặc dù Ngài chứng đạo mấy ngàn năm đã qua, nhưng mỗi lần về đây, chúng ta vẫn còn cảm nhận được không khí âm vang, ánh từ quang giác ngộ tỏa chiếu, làm khơi dậy tự tánh thanh tịnh trong lòng người con Phật, nó gần gũi, an lạc và lạ kỳ làm sao!


Tu Nghiem



Continue reading →

THEO TRIỀN THUNG LŨNG

0 nhận xét


Nắng tháng Tám vàng sắc da bưởi chín.

Gió qua đê thổi hương cốm vào làng.

Mỗi Trung Thu con về thăm nội.

Phiên chợ rằm theo gót nội xênh xang.

Đêm vừa xuống trăng lên tàu lá chuối.

Gió hay hay nội trãi chiếu ra hè.

Con tíu tít bám hoài theo chân nội.

Xem nội treo đèn bày cỗ Trung Thu....


Tôi không biết bài thơ này do tác giả nào đặt ra, nhưng mỗi lần đọc là tôi nhớ nội và ba vô cùng. Nội không còn, mà ba cũng không còn để tổ chức Trung Thu cho tôi nữa, đúng hơn tôi không còn tuổi để  chơi đèn phải nói là tôi đang tuổi phải tổ chức và bày cỗ cho đám trẻ con hiện tại. May mắn thay, tôi lại không phải làm việc này vì thầy trụ trì đã lo mọi việc một cách chu toàn để nhóm thọ bát  thứ Bảy ngày hôm đó gồm có Quảng Thọ, Lệ Tâm, Diệu Viên, Viên Định và tôi được rảnh rang tu tập.


Sau phần dược thạch, thầy trụ trì Phước Tấn hỏi ý là chúng tôi có thích đi thiền hành hay không. Tôi là đứa hay lo việc quan để trốn việc làng nên nhanh nhẩu đáp có. Thế là sáu thầy trò chúng tôi cùng nhau xuống núi, để thầy Minh Từ  ở lại giử chùa. Người ta lên núi để tìm đạo, riêng chúng  tôi thì phải xuống núi để tìm sự tĩnh lặng cho tâm hồn, bỏ lại đằng sau lưng những ồn ào náo động của đám trẻ con đang sắp sửa rước đèn.


Chùa Quang Minh tọa lạc trên một đỉnh đồi nhìn xuống là dòng sông thơ mộng Maribyrnong lặng lờ trôi chảy. Thầy đưa chúng tôi đi lần theo con đường trải đầy sỏi trắng nằm bên cánh trái của đền Tam Thánh. Theo yêu cầu của nhóm Thọ Bát hôm nay,  phần thiền hành tạm thời gát bỏ để thầy thuyết minh từng phần. Chúng tôi phục thầy vô song vì thầy thuộc từng cành cây ngọn cỏ, từng viên đá nằm bên vệ đường. Cứ mỗi góc độ của triền dốc thì hiệ́n bày một cảnh khác nhau. Chúng tôi thích thú ngắm nhìn sự chuyễn biến của cảnh vật như những đứa trẻ đang nhìn vào trong chiếc kính vạn hoa và say sưa nghe thầy giảng.  Tôi không biết gì về phong thủy nhưng cũng có một ít kiến thức về địa lý và địa hình. Chùa Quang Minh có một may mắn là được nằm trên vuông đất bồi của dòng sông  Maribyrnong. Theo địa lý và cũng theo kinh nghiệm dân gian thì vùng đất bồi là điểm  phát triển và nơi tụ người .


Chúng tôi đi khoảng một phần đường thì được thầy cho dừng lại để thầy thuyết giảng, thầy bảo chúng tôi nhìn ngược về phía Đại Hùng Bửu Điện đang xây cất thì sẽ thấy những bờ đá gợn sóng như hình con rồng uốn khúc đang nằm dưới chân ngôi chùa. Nếu giàu tưởng tượng một chút ta sẽ thấy được chiếc mõm rồng nằm cuối bức tường, vào cánh trái của Đại Hùng Bửu Điện, do những tảng đá vô tình nằm vất vưởng trên ngọn đồi tạo nên. Nơi mà trước đây trơ trọi, nay được bàn tay kiến tạo của con người đặt tới, liền với các tảng đá là mô đất có hình khum như cái đầu rồng được nối với chiếc mõm. Chiếc đầu rồng đang hướng ra dòng sông Maribyrnong, rồi bờ đá được nối liền với con đường sỏi trắng uốn cong dợn sóng như hình con rồng dài đang uốn khúc. Nó dường như đang chạy lần xuống miền thung lũng hay nói đúng hơn là con rồng từ dưới miền thung lũng đang trườn mình bò tới và nằm phục dưới chân  Đại Hùng Bửu Điện. Đúng là biểu hiện của dạng thanh long đầu phục .


Khi tôi học cách thiết kế trang Web với thầy Minh Từ thì thầy luôn bảo chúng tôi: “Quý vị phải có đầu óc tưởng tượng một tí thì sẽ thiết kế được một mẫu mã đẹp.” Trước cảnh hoang sơ trước đây của khu đất mà ngày nay chúng ta thấy được sự hùng vĩ của nó thì cũng nói một phần lớn là do đầu óc sáng tạo đầy mỹ thuật của thầy Phước Tấn cùng với bàn tay khéo léo của nhà tạo cảnh.  Thầy cho biết bức tượng Di Lặc sẽ được đặt nơi lớp đất nằm dưới chiếc đầu rồng tưởng tượng mà tôi vừa kể.


Những tảng đá được đặt chồng lên nhau nhìn xa như những chiếc vẩy rồng. Đây là loại đá hoa cương vi tính nên những tinh thể thạch anh được chiếu lấp lánh dưới ánh mặt trời làm tăng thêm phần linh hoạt của nó.  Chúng ta không những chỉ có một bờ đá mà chúng ta lại có những ba bờ đá lận, trông xa như một quần thể rồng đang chầu phục dưới chân Đại Hùng Bửu Điện chùa Quang Minh, để bảo vệ và che chở cho ngôi chùa chúng tôi.


Khi chúng tôi xuống tới thung lũng, thửa đất còn đang cày dở, nhà tạo cảnh đã làm việc với hứng thú thực sự nên thầy rất hài lòng về cách sắp xếp và bày trí các cây cảnh của ông ta.  Ngoài bờ đá, thầy còn có chương trình trồng cây xanh trên các triền đồi với tác dụng giử đất và làm nơi cư trú cũng như nguồn cung cấp thức ăn cho những sinh vật sống nơi đây. Tôi  cảm giác dường như lời huấn thị của Đấng Từ Tôn được thầy thể hiện qua việc làm này là dùng tâm từ để  làm việc và luôn nghĩ đến muôn loài.


Thầy đưa chúng tôi đến vuông đất bồi của dòng sông rồi thầy cho biết nơi đây là vùng bình yên và tĩnh lặng nhứt . Chúng tôi dừng lại nơi này một hồi lâu để tận hưởng giây phút yên bình trong cuộc đời. Tôi có cảm giác  như dòng sông và con đất đang bao bọc và che chở thầy trò chúng tôi. Rồi nhìn lên các bờ đá có dạng hình rồng, đột nhiên ý tưởng thoáng hiện trong đầu tôi hay là các con rồng đang về hộ trì và cuối đầu quy phục trước : bóng dáng uy nghiêm của Hòa thượng chúng tôi, một người suốt cuộc đời vì đạo pháp và lo cho đàn con dại; chiếc bóng tròn đầy của thầy Phước Tấn trong những ngày tháng miệt mài, những đêm thức trắng để tìm mọi kế hoạch lo chu toàn trách nhiệm, hoàn thành công tác xây dựng chùa, cùng giử vững giềng mối đạo; chiếc bóng cao nghiêng đổ của thầy Phước Thái trong những đêm dài  nặn óc tìm phương dạy dỗ chúng tôi qua những bài thơ, những dòng nhạc, những bài pháp, những phương pháp trì chú niệm Phật công hiệu nhứt; chiếc bóng cao gầy gầy của thầy Minh T̀ừ với cách thiết lập trang Web kỳ bí mà tôi gỡ hoài không ra, với lời kinh A Hàm đưa chúng tôi về khoảng quá khứ xa xôi nào đó và cô đọng những bài học muôn đời sẽ không bao giờ quên được; chiếc bóng hiền từ của thầy Phước Hựu với thời Kinh Hoa Nghiêm thâm sâu; chiếc bóng to cao lớn của thầy Phước Thiền với những bài pháp thoại giản dị và vui tươi; chiếc bóng gầy của thầy Phước Đắc ngồi lặng lẻ bên chiếc máy vi tính và lần từng trang kinh trong những khi chiều xuống; chiếc bóng thầy Phước Nguyên trong những buổi trì danh niệm Phật của ngày thứ bảy; chiếc bóng thầy Phước Thiệt với những buổi pháp đàm đầy thân mật; chiếc bóng cô Nguyên Lưu với những bước chân đi gập ghềnh với chiếc gậy  trong tay nhưng không sót một thời kinh công phu nào cả, cùng với  khu vườn “Lộc Uyển” bên hông chánh điện, mà Diệu Viên và tôi phải vun xới theo ý cô,  sau mỗi kỳ thọ bát ngày thứ bảy; chiếc bóng cô Như Bửu hiền hòa thanh tịnh trong những buổi trai tăng tôn nghiêm tại hội trường và trong những thời kinh ngày Chúa nhựt; chiếc bóng cô Phước Chơn với lời đọc kinh nhẹ nhàng vào mỗi chiều trong mùa an cư kiết hạ khi chùa  vắng lặng không người, cùng với những bình hoa khoe màu trong chánh điện; chiếc bóng cô Phước Hồng với lời  kinh cầu trong giọng đọc êm êm của người Huế, cùng những chiếc bánh cam tròn đầy đượm tình sư đệ;  chiếc bóng cao gầy trang nghiêm của cô Diệu Trinh trong những thời kinh vào ngày Chúa Nhựt mỗI tuần.


Chúng tôi được thầy đưa trở về quá khứ của hai trăm năm trước với con đập chắn ngang dòng sông.  Chính tại nơi đây những người thổ dân đã dùng phương tiện thô sơ nhứt để bắt cá.  Cũng chính nơi này, những trại chủ đã dùng nó để làm chỗ nghỉ chân cho đàn cừu qua lại giữa hai vùng đất Avondale Heigh và Braybrook . Thầy còn cho biết chùa vừa nhận được ngân khoảng hơn 35,000 đô cho việc tái tạo lại quang cảnh môi trường cây xanh nơi đây. Tôi cũng được biết rằng kế hoạch này được thầy gọi là “The Meeting Place” mà thầy sẽ là Quản Đốc trông coi công trình đó.


Trăng rằm tháng Tám tròn đầy và mủm mỉm như những đứa trẻ một tay cầm chiếc lồng đèn, một tay níu áo theo mẹ đi rước đèn. Rồi trăng ẩn mình vào gợn mây nhẹ bay ngang qua bầu trời như khuôn mặt của những đứa trẻ lần đầu tiên mới đến chùa dự lễ còn e thẹn  hay mắc cở. Đàng xa là một số em nhỏ đang chạy đuổi nhau cười đùa vui vẻ.  Nhìn những đứa trẻ nô đùa trong khoảng đất trống, thầy cho biết nếu có điều kiện thầy sẽ làm bằng khoảng đất cuối của chùa để tạo một công viên cho chúng vui chơi thỏa thích. Thầy còn nói thêm chẳng thà nhìn chúng té ngã, trầy trụa rồi đứng lên để học được bài học nhân quả trong đời, còn hơn nhìn chúng miệt mài trong những ảo giác của chiếc máy games vô tri, vô tính mà hậu quả vô cùng tai hại cho chúng sau này.  Điển hình là câu chuyện anh chàng bên Mỹ xách súng vào một trường mẫu giáo mà tàn sát vô cớ đám trẻ em trong trường. Tôi nghe xót xa về câu chuyện này. Tôi cũng không biết chúng ta sẽ phải làm gì trước cơn bệnh điên cuồng của thời đại khoa học và kỷ thuật này.  Ngoài việc là chúng ta phải có  lòng tin và hướng về Tam Bảo để cầu nguyện và nên đối xử với nhau trong trong tinh thần lục hòa của đạo Phật. Đúng là khoa học đã cung ứng cho ta một đời sống quá ư là tiện nghi, nhưng đôi khi chúng ta lại phải trả một giá quá đắt.


Chúng tôi trở lên chùa vừa đúng vào lúc các em cùng cha mẹ đang vòng quanh sân ngoài chánh điện, vui vẻ rước đèn và cũng đúng vào thời công phu chiều. Chúng tôi cùng nhau lên chánh điện để kịp dự thời sám hối cuối tuần.


Ba tuần sau thì nhà tạo cảnh đã hoàn thành chiếc đuôi rồng hình rẻ quạt ở dưới thung lũng, với những con đường mòn và những ô đất hình tam giác thật đẹp. Công trình sẽ còn tiếp tục với những thay đổi trong bàn tay xây dựng và kiến tạo của con người.


Như ước muốn của thầy, các em trong nhóm Vô Vi Nam đã dựng lều và sử dụng phần đất vừa mới dọn xong để cắm trại trong hai ngày cuối tuần. Thầy rất hài lòng với việc này, tôi nghe thầy đề cập đến nó với giọng tràn đầy vui vẻ.



Continue reading →

NHÂN MÙA VU LAN KỂ CHUYỆN VỀ CHA

1 nhận xét


Kính dâng hương hồn phụ thân người đầu tiên cho con niềm tin Phật Pháp




Trẻ  con thì thật là buồn cười , có thể khóc la vì một lời nói cỏn con vô nghĩa lý. Tôi còn nhớ câu chuyện cải vả giữa tôi và thằng Được.




Lêu, lêu, lêu, thầy giáo lá, ăn cháo cá, hổng trả tiền.




Lêu, lêu, lêu, thầy giáo lá, ăn cháo cá, hổng trả tiền.




Tôi vừa chạy theo thằng Được , vừa khóc vừa la:  “ Mầy nói bậy, mầy nói bậy, tao mét ngoại mày.




Bà Năm từ trong nhà bước ra, kêu thằng Được lại đứng trước mặt tôi mà nói: “ Cả vùng này chỉ có ba nó  thi đậu  để được học làm thầy giáo; còn bà ngoại nó là người nhân đức đã giúp đở gia đình mình. Con không được phá nó nghe chưa.”




Tôi chạy u về nhà xà vào lòng mẹ,  thỏa thích vì lời nói của bà Năm nhưng vẫn còn thắc mắc tại sao ngoại mình lại là người ân của gia đình họ.




Ba tôi cho biết lúc còn sanh tiền, cứ vào tháng Tư và tháng Bảy Âm lịch là ngoại mua hàng trăm bao gạo để bố thí cho người nghèo khổ. Rồi cũng vào mùa Vu Lan tháng Bảy mỗi năm, hể gia đình nào có thân nhân qua đời mà không đủ tiền mua hòm hay lo việc tống táng thì ngoại tôi lo hết. Mẹ bà Năm qua đời được ngoại lo chu đáo, nên bà nhớ ơn ngoại.




Ông nội tôi thứ Tám là con út trong một gia đình chỉ có ba người còn sống. Ông nội tôi qua đời khi ba tôi được mười tuổi, chú Ba bốn tuổi  và cô Tư vừa lên một tuổi. Bà nội tôi góa bụa ở cái tuổi ba mươi, làm công cho người anh chồng là ông bác Sáu tôi trong cái nhà bảo sanh tại xóm Bình Hòa.




Ông Bác Hai và ông Bác Sáu là người giàu có trong vùng. Ông Bác Sáu tôi có xây một ngôi chùa  ở xóm Bình Hòa vùng Chợ lớn. Ngôi chùa có tên Phổ Đà. Ông Bác Sáu phải ra tận Quảng Nam rước một thầy về làm Giáo Thọ. Ông Bác Sáu tôi không rành chữ Hán, vì ông là Y tá trong bệnh viện Nam Việt thời bấy giờ.  Ông lập nhà bảo sanh rất lớn vào thời đó tại vùng  nầy, nhưng sau khi xây chùa rồi thì đi tu. Chùa có tượng Di Đà cao gần hai mét bằng gỗ mít, tượng được sơn son thếp vàng.




Ba tôi sống hơn ba năm tại ngôi chùa này. Ba cho biết là cũng vào ngày rằm tháng Bảy Ba cùng ông bác Sáu đi khắp mọi nơi trong vùng phát tiền và vải cho người nghèo. Cứ mỗi cuối tuần là Ba đi lượm giấy chữ Nho đem về đốt; ông Bác Sáu giải thích việc làm này là vì chữ Nho in Kinh Phật, nên không được sử dụng bừa bãi. Ba còn nói vào những độ trăng rằm, cả chùa cùng nhau ra lạy mặt trăng. Đến năm 1969, khi hai Phi hành gia người Mỹ đầu tiên đặt chân lên thăm chị Hằng, Ba nói phải chi ông Bác Sáu còn sống, ông sẽ cười phì khi thấy điều phi lý của việc mình làm.




Thầy Phước Thái thường nói cái gì cũng phải có nhân duyên cả. Tôi kể lể dài dòng để cho thấy Ba tôi cũng có chút vốn liếng về Phật pháp nên đã dạy dỗ tôi. Vậy ba là vị thầy đầu tiên đã gieo duyên lành khiến cho mấy chị em tôi biết được giáo lý cao cả này.




Tối tối, ba thường đem chuyện về cuộc đời Đức Phật và những chuyện cổ tích tương tự kể cho chúng tôi nghe . Sau buổi cơm chiều vào mỗi tối Thứ Bảy  và Chúa Nhựt , ba tập chúng tôi ngồi bán già trước bàn thờ Phật để  tụng sám hối.  Nói là nói như vậy nhưng chúng tôi chỉ ngồi để nghe ba tụng mà thôi. Ba có giọng đọc ngân nga và trầm ấm, chúng tôi đứa nào cũng cho là giọng ba thật truyền cảm và gây được sự thích thú cho chúng tôi. Ba nhắc lại lời ông Bác Sáu thường nói với ba  là mình tội lỗi  nhiều thì chỉ cần sám hối là tâm hồn được an lành thì không cần phải cầu an gì nữa. Ngang hông trường tôi học là chùa Xá Lợi . Mỗi năm chúng tôi được Ba đưa đến chùa vào tối 30, đọc kinh rồi dự tiệc trà đạo vị do ngài Chánh Trí Mai Thọ Truyền tổ chức.




Tôi không nhớ rõ năm nào của thập niên 1950, Hội Phật học Nam Việt do ngài Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Hội Trưởng, Bác sỉ Cao Văn Trí là Phó hội trưởng lấy chùa Xá Lợi làm trú sở  thì ba là hội viên. Vào thập niên 60, cứ mỗi lần chùa Xá Lợi có tổ chức thuyết pháp mà do ngài Mai Thọ Truyền thuyết giảng là ba cố gắng khuyến khích và cổ động cả nhà cùng đến nghe. Có lần thầy Thông Khâm cũng thuyết giảng tại giảng đường chùa Xá Lợi với bài pháp nói về nhân duyên giữa cha mẹ và con cái. Ba khen thầy Thông Khâm giảng hay có tính triết lý và khoa học. Tôi thầm cảm ơn Trời Phật đã cho tôi được cái nhân duyên làm con ba mẹ tôi. Thầy Thông Khâm là vị Pháp sư có tài biện thuyết rất hay. Thầy vốn là tu sĩ phái Nam tông đã hoàn tục. Hai vợ chồng thầy qua đời trong một trường hợp rất bi thương mà tôi không dám thuật lại; các vị tu sĩ bạn đều cho là chẳng qua là sợ ứng nghiệp mà thầy phải trả.




Ngài Chánh  Trí ra đi rất nhẹ nhàng và bình yên trong sự thương tiếc của mọi người. Ba cho đó là sự mất mát lớn của hội Phật học Nam Việt. Vì ngài Chánh Trí thuyết Pháp với lời lẽ rõ ràng mạch lạc với lý luận vững chắc  có tính khoa học lại biết cách điều hành cùng tổ chức hội Phật học Nam Việt thành công. Phải chi ba còn sống đến ngày nay, để được nghe thầy Phước Thái giảng và thấy thầy sắp xếp cùng các khóa tu học thì chắc Ba cũng sẽ rất hài lòng.


Sau này, mỗi lần nhắc đến ngôi chùa của ông Bác Sáu thì tôi lại nhớ câu nói của Hòa thượng Phước Huệ trước mọi việc thay đổi của cuộc đời của lòng người: “ Còn duyên hợp giả duyên tan.”  Ông Bác Sáu tôi chắc cũng biết cái sự thường tình của việc tan hợp này sẽ đến với ngôi chùa đó. Vì thế nên ông đã  không để cho Ba tôi thừa tự nó, mặc dù ông không có đứa con nào cả và ba tôi lại là cháu đích tôn trong dòng họ và lại đã từng tu học tại ngôi chùa này.




Đầu thập niên 1930, ông Bác tôi viên tịch, cái chùa bị các người con nuôi tranh dành và được bán rẻ cho người đạo Thiên Chúa có quốc tịch Pháp. Đúng vào thời điểm mà những người Pháp làm chủ tình hình đất nước ta, cô Tư N, con nuôi của ông Bác Sáu có người bạn trai với đầy đủ uy quyền để mua ngôi chùa và miếng đất với giá tượng trưng. Không một người nào trong dòng họ tôi dám có một lời phản đối và cũng không ai được chia phần trong việc mua bán này chỉ trừ cô Tư N. Đó là điều mà ba tôi thường an ủi nội  là mình không mang tội bán chùa. Ngôi chùa bị phá đi để làm trái ưa. Bà  nội tôi  trước đã giấu ông Bác Sáu vì tội đã không lấy tiền chùa nuôi bốn mẹ con côi cút của bà; giờ lại còn giận hơn khi biết ba tôi không được thừa tự ngôi chùa đó. Thật ra thì bên cạnh ngôi chùa là miếng đất gần hai mẩu tây, đó là phần giá trị mà nội tôi và mọi người đều muốn. Theo lời mẹ tôi kể thì ông Bác Sáu có nói tiền chùa là tiền của bá tánh không thể lấy nuôi người thân được. Vã lại ông cũng biết nội tôi có máu bài  bạc mà ba tôi thì lại rất có hiếu, nội mà muốn điều gì thì ba sẽ tuân theo.




Vào Tết Mậu Thân năm 1968, ba được tin cô Tư N, con nuôi của ông Bác Sáu tôi, người đứng ra bán ngôi chùa, không hiểu rõ vì sau lại bị Việt cộng chém chết tại vùng ngoại ô của thành phố Sàigòn  mà không ai dám đến phúng viếng. Ba đọc một thời kinh cầu siêu cho cô Tư N tại nhà ; rồi ba đến trước bàn thờ ông bác Sáu tôi lâm râm khấn nguyện điều gì mà cả đám chúng tôi đều không được biết.




Theo lời cậu  Bảy tôi, người phá ngôi chùa của ông Bác Sáu làm ăn thua lỗ, bán trại cưa và miếng đất rồi về vùng ngoại ô của thành phố Saigon cạnh ngôi chùa nhỏ mua miếng đất tại đó. Không biết lý do gì, sau đó ông quy y theo đạo Phật. Khoảng năm 1975, ông mất sau những năm tháng dài của cơn bạo bệnh và được chôn sau cầu tiêu của ngôi chùa nhỏ đó. Phần đất nơi tọa lạc ngôi chùa của ông Bác Sáu được một người Hoa mua lại và lập đền thờ Quan Thánh. Ba tôi ngậm ngùi nói: “ Như vậy thì tốt hơn là làm trại cưa”.




Năm tôi học lớp Đệ lục, ba chở tôi trên chiếc xe mô bi lết đến tiệm đồ cỗ đường Đồng Khánh, quận Năm. Ba nói nhỏ là trong khi ba nói chuyện với người chủ thì tôi đến sau tượng dưới cái bệ bên chân trái của Đức Di Đà xem là có khắc một hàng số hay đúng ra là bài toán nhơn thì báo cho ba biết. Tôi tìm được khoảng sơn tróc và hàng số lí nhí, mờ phai theo năm tháng, mờ phai theo thời gian.




Chùa Xá Lợi không hợp cho bức tượng đó ba nói.Vài tháng sau ba trở lại thì người chủ cho biết có người đã rước bức tượng rồi. Trở về nhà buồn bả, ba cho biết bức tượng khơi lại quảng đời thơ ấu khi ba còn ở với ông Bác Sáu, nơi mà đạo Phật đã thâm nhập vào tâm hồn ba. Bốn tháng qua ba cố gắng tìm một ngôi chùa để an vị nhưng duyên chưa đến, biết làm sao bây giờ?!?




Ba tiếp tục hướng dẫn chúng tôi có niềm tin vào đạo Phật một cách nhẹ nhàng là tạo thói quen cho chúng tôi đi chùa khi có dịp và có cơ hội đến. Ba lại càng đọc kinh nhiều hơn  khi nội tôi mất và cứ mỗi tháng bảy là Ba cùng chúng tôi đọc kinh Địa Tạng. Mẹ tôi nói ba muốn đọc kinh cầu nguyện cho hương hồn nội tôi sớm giải thoát vì bà thường nặng lời với ông Bác Sáu tôi. Sau khi ba vượt biên thì mẹ con chúng tôi lại càng đến chùa thường xuyên hơn.




Ba qua Úc năm 1982, mãi đến ba năm sau tôi mới vượt biên được để sum hợp cùng ba. Khi đi tôi đem bức hình của mẹ tôi đã qua đời trong cơn bạo bệnh tại Việt Nam và tượng đồng Đức Phật Thích Ca mà thầy Giáo Lại , bạn ba, đã thỉnh khi đi qua Ấn Độ năm 1958.




May mắn là khi qua Úc được hai năm thì tôi được làm việc tại trung tâm cung cấp nhà cho những người có lợi tức thấp. Ông giám đốc trung tâm đã tận tình giúp đỡ  cho ba và em trai tôi có được một căn nhà khang trang với giá thuê rẻ. Ông giám đốc là người Ái Nhỉ Lan, hể nói đến dân Ái Nhỉ Lan thì phải biết là dân gốc đạo Thiên chúa từ bao nhiêu đời, nói nôm na là đạo dòng. Nên khi ông ngỏ lời cưới, tôi quính quáng  chạy về hỏi ba là tôi phải xử sự thế nào cho phải, vì tôi không muốn vì lấy chồng mà phải bỏ đạo. Lúc đó ba nhẹ nhàng bảo: “ Con đến cầu nguyện Tam bảo cho con một giải quyết thỏa đáng.” Tôi đến chùa Pháp Bảo cầu nguyện y như ba bảo. Qua tuần sau đi làm trở lại, tự nhiên ông giám đốc hay ông xả tôi bây giờ  cho biết là tôi không bắt buộc phải theo đạo nếu chúng tôi làm đám cưới, rồi ông còn nói nên nhờ vị tu sĩ Phật giáo làm chứng minh cho đám cưới chúng tôi.




Vài năm sau ông xả tôi quy y khiến ba rất hài lòng nhưng ba vẫn hỏi tôi: “ Con đã bắt buộc hay tự ý nó làm?” Tôi thưa với ba: “ Thưa ba , ở xứ Úc này không ai có thể bắt người khác làm những ̣điều mà họ không muốn, vả lại ông không ép con theo đạo ông thì con không có quyền bắt buộc ông theo đạo con.”




Cuối đông năm 1993, tôi đưa ba về lại căn nhà xưa, sau trường Petrus Ký. Ba sống lại những giờ phút êm đềm cùng những người bạn thân như bác Trần Hữu Văng, bác Lê Văn Tài; những người mà một thuở đã giữ chức vụ quan trọng tại trường Petrus Ký và Bộ giáo dục cũ.




Đầu thu năm 1994, đàn con năm đứa từ Sydney đáp chuyến bay trở về Việt Nam hợp cùng hai người còn lại cùng một số bạn hữu của ba đã đưa ba đến nơi an nghỉ cuối cùng. Ba ra đi cũng khá nhẹ nhàng bên những người bạn thân yêu và trên mảnh đất quê hương; nơi mà ba đã từng là một người con hiếu thảo của nội tôi; một chiến sĩ can cường của Đệ Tam Sư Đoàn kháng chiến chống Pháp; một người bạn đạo và đồng nghiệp của bác Trần Hữu Văng, Bác Tăng văn Chương, bác Lê văn Tài vân vân và vân vân và là một người cha kính yêu vô vàn của những đứa con ba.




Continue reading →